No valid database connection You have an error in your SQL syntax; check the manual that corresponds to your MySQL server version for the right syntax to use near '' at line 1 SQL=SELECT home FROM jos_menu WHERE id=
No valid database connection You have an error in your SQL syntax; check the manual that corresponds to your MySQL server version for the right syntax to use near '' at line 1 SQL=SELECT home FROM jos_menu WHERE id=
Nghiên cứu
Nghiên cứu

NHỮNG NỖ LỰC BẢO TỒN VÀ PHỤC HỒI CÁC ĐỐI TƯỢNG TÀI NGUYÊN MỤC TIÊU TẠI CÙ LAO CHÀM

PDF.InEmail

Thứ ba, 18 Tháng 6 2019 16:21 Số truy cập:78

Khu bảo tồn biển (Khu BTB) Cù Lao Chàm được hình thành trong giai đoạn 2005 – 2006, với nhiều giá trị tài nguyên thiên nhiên nổi trội như các hệ sinh thái (HST) rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển, bãi biển và vùng triều, hệ sinh thái rừng đặc dụng Cù Lao Chàm,…vv.

Để quản lý hiệu quả Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, phương thức quản lý tổng hợp, với nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng địa phương đã được quan tâm thực hiện xuyên suốt trong quá trình quản lý.

Đến nay, Ban quản lý (BQL) Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã xây dựng và thực hiện 02 kế hoạch quản lý tổng hợp (KHQL), cụ thể: KHQL 05 năm lần thứ nhất được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt và thực hiện trong giai đoạn 2009 – 2013 (theo QĐ số 4532/QĐ-UBND ngày 31/12/2008) và KHQL 05 năm lần thứ hai do UBND thành phố Hội An phê duyệt, thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2018 (theo QĐ số 1999/QĐ-UBND ngày 20/10/2015) với mục tiêu chung là bảo tồn và tôn tạo các giá trị tài nguyên thiên nhiên, môi trường, đa dạng sinh học; các giá trị di tích văn hóa; khai thác hợp lý và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên trong Khu BTB; cải thiện và nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh Khu BTB; phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội tại địa phương; đảm bảo và duy trì chức năng của vùng lõi KSQ Cù Lao Chàm – Hội An. Trong đó, BQL cùng với cộng đồng đã xác định một số đối tượng, tài nguyên có giá trị sinh học, sinh thái và kinh tế cao để chọn làm đối tượng tài nguyên mục tiêu (ĐTMT) nhằm ưu tiên bảo vệ và phục hồi gồm: hệ sinh thái rạn san hô (RSH), thảm cỏ biển, rừng đặc dụng, hệ rong biển, nhóm cá rạn, rùa biển, tôm hùm, bàn mai, trai tai tượng, bào ngư và ốc vú nàng.

Nhằm đưa ra những phương thức quản lý, bảo tồn và phục hồi có hiệu quả, BQL đã thiết lập và thực hiện các chương trình giám sát thường xuyên các nhóm ĐTMT để theo dõi diễn biến nhóm này như: giám sát chất lượng môi trường nước biển ven bờ hàng tháng (chỉ số giám sát: nhiệt độ, pH, DO, độ đục, độ mặn); giám sát hệ sinh thái RSH vào tháng 5 hàng năm (chỉ số giám sát: độ phủ RSH, mật độ nhóm cá rạn, mật độ động vật đáy, mật độ các tác động lên RSH); giám sát hệ sinh thái thảm cỏ biển vào tháng 7 hàng năm (chỉ số giám sát: độ phủ thảm cỏ biển, thành phần loài cỏ, mật độ sinh vật sống trong thảm cỏ biển); chương trình ghi chép sổ Nhật ký khai thác nghề cá được triển khai hàng tháng cho ngư dân Cù Lao Chàm (chỉ số: ngư trường, mùa vụ, sản lượng và kinh tế nghề cá).

Kết quả giám sát hàng năm của BQL cho thấy độ phủ trung bình RSH toàn vùng Cù Lao Chàm đang có dấu hiệu tăng từ năm 2013 đến nay, ở mức 42,02% tăng lên 50,97%. Tuy độ phủ RSH có sự gia tăng nhưng mật độ các loài sinh vật chỉ thị sống trong RSH ngày càng suy giảm, đặc biệt là các loài có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, trai tai tượng, cá chình, cá hồng, cá mú kích thước lớn (trên 30cm). Điều này cho thấy áp lực khai thác đang ngày càng gia tăng tại các vùng rạn và công tác quản lý chưa thực sự hiệu quả.

 

H1

Hình 1. Diễn biến độ phủ RSH tại Cù Lao Chàm

H2

Hình 2. Diễn biến mật độ nhóm cá kinh tế Cù Lao Chàm

H3

Hình 3. Diễn biến mật độ nhóm động vật đáy Cù Lao Chàm

H4

Hình 4. Diễn biến mật độ nhóm cá chỉ thị Cù Lao Chàm

Tương tự như hệ sinh thái RSH, các nguồn lợi sinh vật sống trong thảm cỏ biển cũng đang có xu hướng giảm dần. Đặc biệt là nhóm cá dìa hầu như ít phát hiện trong các đợt giám sát cỏ biển hàng năm của BQL. Cá dìa là loài ăn cỏ và rong đặc trưng, ngoài ra còn có giá trị kinh tế cao. Do đó sự suy giảm đáng kể loài này phản ảnh hiện trạng chất lượng cỏ biển đang diễn biến xấu và sự khai thác quá mức của ngư dân.

H5

Hình 5. Diễn biến mật độ sinh vật sống trong thảm cỏ biển Cù Lao Chàm

Bên cạnh đó, BQL đã phối hợp với các cơ quan đơn vị có chuyên môn để điều tra, đánh giá đa dạng sinh học toàn vùng đối với các hệ sinh thái đặc trưng, quan trọng. Kết quả dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An” do Viện Hải dương học thực hiện từ năm 2015-2016 đã ghi nhận Khu sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An có 1667 loài thuộc 455 họ của 11 nhóm sinh vật chủ yếu và 533,4ha diện tích các hệ sinh thái tiêu biểu (gồm 356,4ha rạn san hô; 117ha rừng dừa nước tự nhiên; 43ha thảm cỏ biển ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn và 17ha thảm cỏ biển ở Cù Lao Chàm). Tuy nhiên, dưới áp lực phát triển kinh tế-xã hội và thay đổi về môi trường trong 12 năm qua (2004 – 2016), diện tích các hệ sinh thái tiêu biểu trong KSQ đã bị mất khoảng 112,5ha (gồm 77,1ha rừng dừa nước; 34,6ha thảm cỏ biển và 0,8ha rạn san hô), đặc biệt thảm cỏ biển tại Bãi Ông và Bãi Hương hầu như bị biến mất. Cấu trúc quần xã sinh vật rạn san hô bị thay đổi theo hướng giảm nhẹ cả về độ giàu có (1,2 lần) và phong phú loài (1,1 lần), nguồn lợi sinh vật rạn có giá trị chưa có dấu hiệu phục hồi.

 

H6

Hình 6. Bản đồ phân bố bãi đẻ và ương giống của các nhóm nguồn lợi quan trọng trong KSQ

H7

Hình 7. Ốc gai đẻ trứng ở Hòn Lá và Hòn Dài

H8

    Hình 8. Tổ trứng mực lá trên RSH ở Hòn Dài

Bắt đầu từ năm 2018, BQL phối hợp với Viện Sinh học Nhiệt đới TP.HCM triển khai điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học hệ rong biển tại Cù Lao Chàm. Kết quả khảo sát ban đầu năm 2018 tại các khu vực Tây Hòn Tai, Bãi Hương, Bãi Bắc, Hòn Lá đã ghi nhận được 39 loài rong, trong đó có khoảng 10 loài có sinh lượng khá lớn và đồng thời cũng là các loài rong có vai trò sinh thái quan trọng.

     H9

Hình 9. Quần thể rong Sargassum (Rong mơ) 

H10

              Hình 10. Quần thể rong Turbinaria (cùi bắp)

   H11

Hình 11. Quần thể rong Lobophora 

H12

  Hình 12. Quần thể rong Pandina

Tiếp nhận nhiệm vụ nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học rừng đặc dụng Cù Lao Chàm được UBND thành phố Hội An chính thức giao cho BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm từ năm 2014, đến nay BQL đã phối hợp với Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) thực hiện các đề án “Điều tra thành phần loài và xây dựng danh lục thực vật bậc cao trên cạn tại đảo Hòn Lao thuộc khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2017), “Nghiên cứu cấu trúc rừng và điều tra bổ sung thành phần loài thực vật bậc cao trên cạn trên các đảo thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2018) và “Điều tra thành phần loài và xây dựng cơ sở dữ liệu khu hệ thú trên các đảo thuộc Khu dữ trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2018). Kết quả các đề án đến nay đã ghi nhận rừng đặc dụng Cù Lao Chàm có 500 loài thực vật thuộc 5 ngành, 50 bộ và 107 họ; 15 loài thú thuộc 6 bộ, 12 họ. Trong đó có 09 loài thực vật và 02 loài thú quý hiếm nằm trong danh lục nguy cấp và quý hiếm của Việt Nam và thế giới (IUCN). Ngoài ra, đề án còn phát hiện 02 loài Ráy có khả năng sẽ là loài mới cho khoa học và lần đầu tiên ghi nhận tại đảo Cù Lao Chàm và ghi nhận vùng phân bố mới của 01 loài Lan hoại sinh. Đề án cũng đã tạo lập và đưa vào sử dụng bộ mẫu tiêu bản trưng bày 80 loài thực vật rừng phổ biến của Cù Lao Chàm nhằm truyền thông cho cộng đồng và du khách.

      H13

 Hình 13. Khỉ vàng (mục IIB-NĐ32CP/2006)

H14

       Hình 14. Tê tê Java (EN – SĐVN 2007)

H15

Hình 15. Sâm cau, Cồ nốc lan, Ngải cau – Curculigo orchioides Gaertn (EN-SĐVN)

Đối với một số ĐTMT chưa có dữ liệu thông tin, BQL đã đăng ký thực hiện các đề tài khoa học nhằm điều tra hiện trạng ĐTMT, từ đó đưa ra những giải pháp quản lý, bảo vệ và phục hồi phù hợp. Thông qua kết quả đề tài “Điều tra thành phần loài, vùng phân bố, kích thước quần thể, hiện trạng khai thác và xây dựng giải pháp bảo vệ giống trai tai tượng (Tridacna) và bàn mai (Pinna) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” (2014-2016), năm 2018 BQL đã thực hiện chuyển vị thí điểm thành công 06 cá thể trai tai tượng từ các khu vực khác về vùng khoanh nuôi phục hồi tại Bãi Bắc nhằm gia tăng khả năng sinh sản, phục hồi trong tự nhiên của giống này. Một tổ cộng đồng khai thác và bảo vệ tôm hùm, ốc vú nàng tại Cù Lao Chàm được thành lập thông qua kết quả đề tài “Điều tra thành phần loài, phân bố sinh thái, hiện trạng khai thác và xây dựng mô hình đồng quản lý nguồn lợi tôm hùm, ốc vú nàng tại Cù Lao Chàm” (2011-2013). Đặc biệt, BQL đã ứng dụng thành công phương pháp phục hồi san hô cứng và chuyển vị rùa biển tại Cù Lao Chàm. Kết quả đề tài “Ứng dụng công nghệ phục hồi một số loài san hô cứng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có sự tham gia của cộng đồng” (2015 – 2017) đã xây dựng thành công 02 vườn ươm san hô với tổng diện tích 30m2 gồm 595 tập đoàn tại hai khu vực Bãi Bò, Bãi Nần và phục hồi 4000m2 gồm 2783 tập đoàn tại hai khu vực Bãi Bắc và Bãi Tra với tỉ lệ sống trung bình đạt 79,85%. Đề tài “Phục hồi và bảo tồn rùa biển (Cheloniidae) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” (2017 – 2019) bước đầu đã chuyển vị và ấp nở thành công 90% trứng rùa biển từ Côn Đảo về Cù Lao Chàm trong 2 năm 2017 và 2018.

H16

Hình 16. Phục hồi Trai tai tượng

H17

Hình 17. Phục hồi san hô

Ngoài ra, BQL cũng đã kêu gọi tài trợ từ các tổ chức quốc tế và thực hiện thành công các dự án này trong các lĩnh vực truyền thông nâng cao nhận thức, cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương. Từ năm 2013 đến nay, Chương trình Rừng ngập mặn cho tương lai (MFF) đã tài trợ cho BQL thực hiện các dự án “Xây dựng cơ chế quản lý rạn san hô và thực hiện thí điểm phục hồi 2000m2 san hô cứng có sự tham gia của cộng đồng tại thôn Bãi Hương, Tân Hiệp, Hội An” (2013-2015); “Thí điểm mô hình hợp tác 4 nhà (nhà nước – nhà nông – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp) trong hoạt động giám sát khai thác cua đá tại Cù Lao Chàm” (2014 – 2015); “Nâng cao khả năng phục hồi của các sinh kế cộng đồng và công tác quản lý thích ứng taị các khu bảo tồn biển địa phương của Việt Nam, từ hành động địa phương đóng góp tới mạng lưới quốc gia” (2013 – 2015); “Bảo tồn các đối tượng tài nguyên mục tiêu (Trai tai tượng, bàn mai, ốc vú nàng, bào ngư, tôm hùm) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” (2016 – 2017). Kết quả các dư án đã góp phần vào việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng, học sinh và các bên liên quan trong việc bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản, qua đó góp phần phát triển bền vững nguồn lợi, tạo sinh kế lâu dài cho cộng đồng địa phương thông qua phát triển du lịch sinh thái nhờ các hệ sinh thái được bảo vệ và phục hồi tốt. Các dự án cũng đã hướng tới trao quyền cho cộng đồng địa phương để nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản thiên nhiên mà họ đang có được. Điển hình như sự tham gia của cộng đồng Tiểu khu bảo tồn biển thôn Bãi Hương trong việc phục hồi san hô, tuần tra kiểm soát trên biển, truyền thông bảo vệ môi trường và nguồn lợi tự nhiên, xây dựng kế hoạch quản lý của Tiểu khu. Hay là sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua đá Cù Lao Chàm trong việc khai thác đúng kích cỡ, mùa vụ và thực hiện dán nhãn sinh thái Cua đá. Tổ cộng đồng khai thác cua đá này cũng chính là kết quả của dự án “Cộng đồng tham gia phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững Cua đá Cù Lao Chàm” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ từ năm 2010 đến 2012.

Từ năm 2015 đến nay, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) cũng đã tài trợ cho BQL thực hiện dự án “Bảo tồn bãi đẻ của Rùa biển có sự tham gia của cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm”. Các hoạt động chính của dự án chủ yếu là truyền thông nâng cao nhận thức cho học sinh, cộng đồng, du khách, doanh nghiệp và các bên liên quan khác về tầm quan trọng của rùa biển và tác hại của túi nilon đến rùa biển; thảo luận các sinh kế thay thế nhằm chuyển đổi khai thác thủy sản bằng lưới ba lớp – đây là loại lưới mà rùa biển thường xuyên mắc phải và gây tử vong tại Cù Lao Chàm.

Thực hiện Biên bản ghi nhớ giữa UBND thành phố Hội An và Cơ quan Tài nguyên thủy sản Hàn Quốc (FIRA), BQL cũng đã tiếp nhận và thực hiện dự án “Phục hồi nguồn lợi tài nguyên bằng phương pháp rạn nhân tạo” (2018 – 2022). Dự án đã bước đầu triển khai khảo sát thực địa nhằm thu thập các thông tin về hải dương học, hiện trạng nguồn lợi hải sản để làm cơ sở xác định vị trí đặt rạn nhân tạo và chọn nguồn giống tái thả trong tự nhiên.

Kể từ khi thành lập cho đến khi được công nhận danh hiệu Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An đến nay, BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu, thực hiện các chương trình, đề tài, dự án nhằm mục đích bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nhóm ĐTMT tại Cù Lao Chàm. Mặc dù các kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nhóm ĐTMT đang bị suy giảm nhưng nguyên nhân chủ yếu là do khai thác hải sản quá mức và trái phép bằng các nghề giã cào, lưới rê, lưới vây, pha súc,…đến từ các phương tiện ngoài địa phương; hoạt động của các cano du lịch tại các bãi biển gây xáo trộn nền đáy và phủ trầm tích lên RSH, thảm cỏ biển; việc xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng trên đảo phục vụ phát triển KT-XH làm giảm hơn 100ha rừng đặc dụng, mất và chia cắt sinh cảnh sống của một số loài, đặc biệt là Cua đá và gây ô nhiễm môi trường do trầm tích, vật liệu xây dựng bị rửa trôi; và sự phát triển du lịch thiếu bền vững.

Do vậy, trong thời gian đến BQL sẽ tập trung vào những chiến lược lâu dài trong công tác quy hoạch để đảm bảo duy trì và phục hồi các hệ sinh thái và nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nhóm ĐTMT. Việc cần làm trước mắt là quy hoạch bãi đậu đỗ cano, đặc biệt tại khu vực Bãi Ông. Hoạt động du lịch cũng cần được điều chỉnh lại với định hướng du lịch sinh thái, nâng cao chất lượng dịch vụ, chọn lọc đối tượng khách. Các phân vùng của khu bảo tồn biển cũng cần được điều chỉnh sớm, đặc biệt là mở rộng diện tích vùng bảo vệ nghiêm ngặt để đảm bảo duy trì, và phục hồi hệ sinh thái RSH và thảm cỏ biển. Tăng cường hoạt động tuần tra, kiểm soát và có sự phối hợp chặt chẽ với các nhóm bảo tồn cộng đồng cũng là hoạt động được ưu tiên hàng đầu. Truyền thông nâng cao nhận thức cho cộng đồng, doanh nghiệp là giải pháp lâu dài và cần tăng cường, đổi mới về hình thức, chất lượng lẫn số lượng. Với những áp lực lên hệ sinh thái đến từ thượng nguồn, cần áp dụng các phương thức quản lý tổng hợp liên ngành liên vùng từ thượng nguồn đến hạ lưu sông Thu Bồn, trong đó nổi bật là quản lý rác thải, các công trình xây dựng trên lưu vực sông.

ThS. Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB CLC

 

Biến đổi khí hậu đang chuyển hóa 99% rùa con thành rùa cái

PDF.InEmail

Thứ hai, 30 Tháng 7 2018 14:29 Số truy cập:1404

Đó là nhận định của các nhà sinh học thế giới được đăng tải trên The Washington Post ngày 8/01/2018 của tác giả Ben Guarino.

A-BDKHruabien 30072018-01

(Một rùa xanh bò xuống biển sau khi đẻ thành công một tổ trứng tại đảo Bảy Cạnh-Vườn quốc gia Côn Đảo)

Theo báo cáo gần đây của Tạp chí Current Biology, hiện đã có một vài quần thể rùa biển bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ khi đa phần các rùa con đã mang giới tính cái. “Đây là một trong những bài báo bảo tồn quan trọng nhất của thập kỉ”, nhà sinh vật học David Owens - Giáo sư danh dự của trường đại học Charleston đánh giá như vậy và sẽ không lâu nữa, có thể chỉ trong vài thập kỷ tới “không đủ rùa đực trong quần thể rùa biển nữa,” ông đã cảnh báo.

Đã từ lâu khoa học đã cho chúng ta biết giới tính của rùa biển không được quy định từ nhiễm sắc thể (gene) của bố mẹ chúng mà hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường bên ngoài của bãi cát ấp trứng quy định. Đây là một đặc điểm sinh học khác thường của loài rùa biển không giống như của con người và các loài động vật có vú khác. Và chính đặc điểm sinh học khác thường này, theo các nhà khoa học, lại đang là mối đe dọa đối với rùa biển trong tương lai khi điều kiện biến đổi khí hậu và trái đất đang ấm lên được diễn ra trên phạm vi toàn cầu.

Ảnh hưởng các điều kiện môi trường đối với sự ấp nở của trứng rùa:

Quá trình ấp và nở của trứng rùa biển trong tự nhiên phụ thuộc vào các điều kiện môi trường, bao gồm các yếu tố cơ bản: sự trao đổi khí, độ ẩm và nhiệt độ của bãi cát ấp trứng khi đáp ứng thỏa mãn giới hạn sự chịu đựng của phôi trong trứng. Khi sự trao đổi khí không thỏa đáng sẽ làm chậm sự phát triển của phôi và tăng tỉ lệ chết phôi. Còn ảnh hưởng của các cấp độ ẩm được thấy rõ hơn, trứng rùa biển rất nhạy cảm với sự khô hạn, tỉ lệ chết phôi cao khi điều kiện bãi cát khô hơn và ngược lại sự ngập nước của tổ trứng trong vài giờ sẽ làm tăng tỉ lệ chết phôi do thiếu ô xy cần thiết cho sự hô hấp của phôi trứng. Đối với nhiệt độ bãi cát là yếu tố tác động được thấy rõ ràng nhất. Theo Miller (1985), phôi trứng rùa biển sẽ không phát triển ở nhiệt độ tối thiểu không đổi là 23 độ C và nhiệt độ tối đa không đổi là 34 độ C; nhiệt độ càng cao thì thời gian ấp trứng càng ngắn. Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy: trứng rùa được ấp ở nhiệt độ < 23 độ C vào 1/3 của kỳ ấp trứng thì rất hiếm nở, trứng được ấp ở nhiệt độ > 33 độ C trong thời gian dài sẽ làm chết phôi trứng không nở được. Rõ ràng nhiệt độ của bãi ấp trứng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến các thông số về thời gian trứng nở, tỉ lệ nở, tỉ lệ giới tính của rùa con. Một nghiên cứu tại Vườn quốc gia Côn Đảo (theo Nguyễn Trường Giang, 2003) đối với rùa xanh tại Côn Đảo có thời gian ấp trứng là 55,18 ± 6,22 ngày (biến động từ 41 - 86 ngày); một nghiên cứu khác của Maria A (2003) đối với rùa xanh tại Côn Đảo: nhiệt độ ở giai đoạn 1/3 giữa của kỳ ấp trứng là 28,6 ± 0,8 độ C thì thời gian ấp trứng là 57,5 ± 2,4 ngày với tỉ lệ trứng nở là 76,1%.…và khoa học cũng cho chúng ta biết: ở tất cả các loài rùa biển, quá trình ấp trứng trong môi trường nhiệt độ cao (vượt qua mức nhiệt độ cân bằng) sẽ nở ra cá thể cái với tỉ lệ cao và ngược lại ở môi trường nhiệt độ thấp hơn thì rùa con nở ra mang giới tính đực nhiều hơn.

Các yếu tố ngoại cảnh tác động đến sự ấp trứng rùa biển được mô tả dưới đây:

A-BDKHruabien 30072018-02

Theo Camryn Allen - nhà nghiên cứu nội tiết học của Cơ quan quản lý khí tượng và Đại dương quốc gia Mỹ, và là đồng tác giả của nghiên cứu về giới tính của rùa con cho biết: “Đó không phải là gen. Đó chính là nhiệt độ và tại mức nhiệt độ cân bằng (pivot temperature), trứng rùa nở ra rùa đực và rùa cái với tỉ lệ 50:50. Đối với rùa xanh (Chelonia mydas), nhiệt độ cân bằng này là 29,30C. Nếu thấp hơn 29,30C vài độ, tất cả rùa biển nở đều là rùa đực, nhiệt độ tăng lên vài độ thì chỉ có rùa cái nở ra”. Nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng cho biết: ở các loài rùa khác nhau thì mức nhiệt độ cân bằng giới tính có sự khác nhau.

A-BDKHruabien 30072018-03

Trứng rùa biển từ VQG Côn Đảo được chuyển vị về Cù Lao Chàm ấp nở thành công và thả rùa con về biển vào tháng 8 năm 2017

Liên quan đến giới tính của rùa biển, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các loại vật liệu khác nhau để làm mái che tại các bãi ấp trứng rùa, và kết quả các nghiên cứu đó cho thấy khi sử dụng các vật liệu làm mái che khác nhau (bằng lưới màu xanh, lưới màu đen, tấm bạt plastics, bằng lá,... ) thì khi rùa nở có tỉ lệ giới tính cũng khác khác nhau. Trong chương trình bảo tồn và nghiên cứu rùa biển của mình, Vườn quốc gia Côn Đảo cũng quan tâm khá sớm đến tỉ lệ giới tính trong quá trình ấp trứng và vật liệu sử dụng thường là các loại lưới nhựa xanh, đen và lá dừa với mức độ che khác nhau, rất tiếc chưa có thống kê chi tiết về kết quả nghiên cứu, và nghiên cứu này ban đầu chỉ quan tâm đến tỉ lệ giới tính (tăng tỉ lệ rùa đực cho quần thể), điều này lại rất ý nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh biến đổi khí hậu, nhiệt độ ấm lên toàn cầu đã và đang diễn ra trong tương lai. Do vậy, có điều kiện Vườn quốc gia Côn Đảo nên quan tâm hơn nữa trong nghiên cứu về giới tính của rùa biển nhằm tạo sự cân bằng về giới tính cho quần thể rùa biển trong tương lai để ứng phó với điều kiện bất thường của khía hậu đang diễn ra.

A-BDKHruabien 30072018-04

Vườn quốc gia Côn Đảo thường sử dụng vật liệu lưới nhựa, lá dừa làm dàn che tại các hồ ấp trứng rùa để điều tiết giới tính cho rùa con.

Thời gian gần đây, sự hợp tác giữa Vườn quốc gia Côn Đảo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam thực hiện một nghiên cứu mới về bảo tồn rùa biển, đó là chuyển vị 1.400 trứng rùa biển có 40 ngày tuổi đã được ấp tự nhiên tại đảo Bảy Cạnh - Côn Đảo di dời về tiếp tục ấp nở thành công với tỉ lệ nở khá cao tại bãi cát của Cù Lao Chàm, kết quả này là một hướng nghiên cứu mới trong bảo tồn chuyển vị rùa biển, đóng góp quan trọng trong nỗ lực hành động quốc gia về bảo tồn và phục hồi rùa biển trong phạm vi cả nước.

Phần cuối bài báo đã đề cập nói trên, Owens và Allen cũng đã nhận định “trong phương pháp quản lý vẫn có khả năng khắc phục được, che bóng râm bãi biển hoặc tưới nước trên cát có thể làm giảm nhiệt độ nơi ấp trứng rùa biển. Chính phủ Úc thông qua dự án phục hồi đảo Raine đang triển khai thực hiện giám sát và bảo vệ loài động vật này”.

Với quá trình và kinh nghiệm hơn 2 thập kỷ quản lý, bảo tồn các loài rùa biển, Vườn quốc gia Côn Đảo xứng đáng là lá cờ đầu trong việc nghiên cứu, bảo tồn các loài rùa biển quý, hiếm trong điều kiện biến đổi khí hậu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu nhằm duy trì và phát triển quần thể rùa biển cho đất nước trong tương lai. Đúng như Allen đã nói “thứ chúng ta đang có trong tay là thời gian”.

Biên soạn: Lê Xuân Đà(1) và Lê Xuân Ái(2)

Tài liệu tham khảo:

- Ben Guarino, January 8, 2018. Climate change is turning 99 percent of these baby sea turtles female (The Washington Post, January 8, 2018);

- Nguyễn Trường Giang, 2009. Cẩm nang nghiên cứu và bảo tồn rùa biển. Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2009

(1): Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo.

(2): Cố vấn khoa học Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

 

Chiến lược gắn kết sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn Di sản và phát triển bền vững tại địa phương / những khó khăn trở ngại trong công tác vận động cộng đồng ở Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm và Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An.

PDF.InEmail

Thứ năm, 19 Tháng 7 2018 09:11 Số truy cập:2161

Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản và phát triển bền vững là vô cùng quan trọng, bởi lẽ cộng đồng là chủ nhân chính thức của di sản; sự tham gia của cộng đồng vào quá trình này được thể hiện theo nhiều cấp độ khác nhau, tuy nhiên người dân phải được thể hiện vai trò là một chủ thể thực sự. Vì vậy, sự tham gia không chỉ là biết, hiểu mà phải hợp tác hành động và sinh lợi chính trên những giá trị di sản mình đang bảo vệ, bảo tồn. Nghiên cứu gần đây về sự tham gia của cộng đồng trong Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm cho thấy người dân phải được tham gia tích cực và thực sự vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản và một khi quyền tham gia ấy được xây dựng, bảo vệ và phát triển thì sinh kế của người dân được cải thiện và kinh tế xã hội của địa phương đó phát triển. Năng lực và nhận thức về bảo tồn và phát triển của cộng đồng phải được không ngừng nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

Đọc thêm...

 
 

Cơ hội mở ra từ việc ứng dụng thành công Công nghệ phục hồi san hô cứng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ tư, 18 Tháng 7 2018 15:42 Số truy cập:1238

Rạn san hô là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, không những có giá trị về mặt sinh thái mà còn có giá trị về mặt kinh tế lâu dài nếu được khai thác một cách hợp lý. Chỉ với 0,1% diện tích nhưng rạn san hô có khả năng góp phần cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp 10% tổng sản lượng nghề cá trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, với giá trị thẩm mỹ và những điều thú vị trong hệ sinh thái này đã thu hút con người tìm đến để khám phá, các dịch vụ du lịch ở những nơi có rạn san hô ra đời kéo theo sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay các rạn san hô đang bị đe dọa bởi nhiều nguyên nhân: sự tác động của con người (hoạt động khai thác thủy hải sản, neo đậu tàu thuyền, phát triển du lịch…), biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, ), tai biến thiên nhiên (bão, lũ, ngọt hóa…). Theo những thống kê gần đây, diện tích rạn san hô trên thế giới đã mất khoảng 11% và khoảng 20% số rạn đang trong tình trạng có chiều hướng suy thoái nghiêm trọng và không có khả năng phục hồi (Wilkinson, 2004).

Đọc thêm...

 

Giải pháp tài chính bền vững cho Khu Bảo tồn biển từ phát triển du lịch – mô hình ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ hai, 18 Tháng 6 2018 14:14 Số truy cập:1559

Tóm tắt: Khu bảo tồn biển là công cụ hữu hiệu trong việc giảm thiểu sự suy giảm nguồn lợi từ biển do tác động của hoạt động khai thác, đồng thời giúp phục hồi sức khỏe các hệ sinh thái biển và cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều nghiên cứu gần đây còn chỉ ra vai trò của bảo tồn biển đối với việc thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, để vận hành hiệu quả một khu bảo tồn biển, cần rất nhiều nguồn tài trợ, trong đó giải pháp huy động nguồn lực tài chính bền vững là một trong những tài trợ quan trọng nhất. Thực tiễn quản lý tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam cho thấy để duy trì nguồn tài chính bền vững cho hoạt động bảo tồn biển, cần phát huy các giá trị, hiểu được nhu cầu sử dụng dịch vụ sinh thái và thực hiện nguyên tắc người sử dụng dịch vụ phải trả tiền. Phát triển du lịch, hình thành các sản phẩm du lịch bền vững cùng với các hình thức tổ chức đào tạo, nghiên cứu, khai thác hợp lý nguồn lợi từ giá trị dịch vụ sinh thái mà khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm mang lại là định hướng tốt tạo nguồn thu cho bên cung cấp dịch vụ. Cũng cần thấy rằng, nguồn tài chính thu được từ sự gia tăng giá trị lợi ích sinh thái cần ưu tiên tái đầu tư cho sức khỏe hệ sinh thái của khu bảo tồn.

Từ khóa: Khu bảo tồn biển, Cù Lao Chàm, du lịch bền vững, hệ sinh thái

Đọc thêm...

 
 

Trang 1 trong tổng số 10

...