Trên cơ sở lý luận dạy học Đại học nâng cao chất lượng đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường

PDF.InEmail

Trường hợp nghiên cứu: Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An, Quảng Nam

Người sinh viên được tào tạo về quản lý môi trường hôm nay sẽ là người cán bộ cộng đồng ngày mai đòi hỏi không những vững kiến thức đã học, mà còn phải biết thực hành, biết làm, biết vận động cộng đồng tham gia vào bảo vệ môi trường. Muốn vậy người cán bộ cộng đồng phải biết tập hợp được lực lượng, phải thành thạo các kỹ năng hỗ trợ cộng đồng xây dựng được tầm nhìn, triển vọng tương lai của phát triển bền vững tại địa phương, phân tích được các tình huống và giải quyết được các vấn đề theo khả năng của nội lực địa phương. Đồng thời người cán bộ cộng đồng phải hết mức mẫu mực, là tấm gương trong thực hành các nỗ lực bảo vệ môi trường [2]. Như vậy nhu cầu của người học, người được giáo dục không chỉ là học để biết, mà học còn để làm, để cùng mọi người làm, để chung sống với cộng đồng và để có thể khẳng định lấy mình với chia sẻ trách nhiệm và lợi ích chung của mọi người của xã hội.

Teaching theory01

Hình 1: Cùng nhau đưa thuyền lên bãi – Ngư dân Cù Lao Chàm

Đối với Hội An, theo dòng thời gian, Hội An đã từng và đang là nơi hội ngộ của du khách từ Tây sang Đông của cả hai miền Bắc và Nam bán cầu đến giao lưu, buôn bán, làm ăn, sinh sống, viếng thăm. Theo lớp không gian, Hội An cũng đã từng và đang là nơi gặp nhau của các nguồn tài nguyên sinh vật từ thượng nguồn đến hạ lưu, từ biển khơi đến lục địa và theo dọc vùng bờ đến trú đông, kết bạn, sinh sống, hoặc duy trì nòi giống. Con người và thiên nhiên đã từng và dường như đang “hội ngộ” tại Hội An – một vùng cửa sông và ven bờ trù phú của dòng sông Thu Bồn, làm nên sự đa dạng và độc đáo của một Di sản Văn hóa Thế giới, và một Khu Dự trữ Sinh quyển cho mai sau. Trong những năm qua, Hội An đã và đang khai thác thế mạnh này và kết quả Hội An cũng đã và đang mạnh và giàu lên từng ngày, làm rạng rở một đô thị cổ xinh đẹp, quyến rũ và tiếng vang khắp thế giới. Tuy nhiên, để một Hội An phát triển bền vững, bảo tồn và phát triển sự “hội ngộ” ấy, hội ngộ của con người và hội ngộ của thiên nhiên, cần phải được duy trì.

Nhiều trao đổi về quan điểm phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường mà cụ thể là du lịch sinh thái đã và đang thực hiện tại Hội An và Cù Lao Chàm cũng như về ứng xử của con người với thiên nhiên sao cho đạt được lợi ích cao nhất. Và cũng từ đó các đề tài về phát triển bền vững như về sự liên kết, cơ chế chia sẻ lợi ích đảm bảo giữa ba cột trụ là Kinh tế, Môi trường và Xã hội cũng đã và đang được đề cập. Hiện tại, Hội An đang tập trung khai thác các lợi ích của tài nguyên thiên nhiên mang lại mà cụ thể là rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, rừng dừa nước, vùng cửa sông thông qua các nguồn lợi như cá tôm, cảnh quan dưới nước, cảnh quan trên cạn, cùng với các yếu tố xã hội như đời sống và văn hóa cộng đồng ngư dân. Hội An đã và đang cố gắng triển khai và tăng cường triển khai, khai thác các lợi ích này thông qua việc mở thêm các dịch vụ du lịch. Hội An đang cố gắng tối đa, sáng tạo tối đa các hình thức để con người hưởng thụ tối đa các lợi ích mà thiên nhiên mang lại.

Để làm tốt công tác giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường, người sinh viên cần phải được đào tạo và giáo dục để có thể có được khả năng vận động cộng đồng một cách tích cực vào công tác bảo vệ môi trường tại địa phương. Người sinh viên cần phải được hiểu và nắm bắt được một khối lượng tri thức cơ bản về môi trường bao gồm các thành phần môi trường như đất, nước, không khí, đa dạng sinh học, đồng thời các mối quan hệ giữa các yếu tố trong thành phần môi trường như động thực vật hoặc giữa các yếu tố sống và không sống cũng cần được phân tích và mô tả một cách chi tiết. Người sinh viên cũng cần được trang bị các hiểu biết về các hiện tượng ô nhiễm, tổn thương đến các hệ sinh thái. Ngoài ra, người sinh viên cần được trang bị các phương pháp và công cụ làm việc với cộng đồng. Một số công cụ cơ bản như DPSIR (dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, đáp ứng), SMART (cụ thể, lượng hóa, hiện thực, hợp lý, thời gian), hoặc SWOT (mặt mạnh, điểm yếu, cơ hội, thời gian), phân tích cây vấn đề, cây mục tiệu, hoặc các phương pháp có sự tham gia như lập bản đồ hiện trạng, lịch thời vụ cần được gắn kết với hành trang của người sinh viên.

Việc đào tạo truyền thông, giáo dục cộng đồng cần phải lồng ghép được những giải pháp nhằm góp phần hỗ trợ cho bảo tồn và phát triển sự “hội ngộ” để một Hội An phát triển bền vững. Vì vậy nhu cầu tiếp cận phát triển bền vững tại địa phương cần được giới thiệu thông qua quá trình phát triển sử dụng tài nguyên và môi trường tại Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam. Các bài học kinh nghiệm về sử dụng tài nguyên và môi trường trước năm 1999 bao gồm khai thác san hô làm vôi, cement; chuyển diện tích rừng dừa nước sang ruộng muối, ao hồ nuôi tôm, cá, khai thác không hợp lý nguồn lợi thủy sản tại các sinh cảnh quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng cửa sông. Đồng thời các thành quả khai thác và sử dụng các lợi ích đa dạng của tài nguyên và môi trường thông qua các nỗ lực bước đầu của cộng đồng về xây dựng bảo tồn biển, và tiếp cận với danh hiệu khu dự trữ sinh quyển (1999-2009). Gần đây hơn, sự phát triển và những nỗ lực gia tăng về kinh tế, sinh kế cộng đồng và bảo vệ môi trường, tài nguyên, đồng thời những áp lực lớn dần có nguy cơ đe dọa sự bền vững tại địa phương trong giai đoạn 2010 – 2015 như xói lở bờ biển, chất thải, khai thác nguồn lợi, thiên tai. Tiếp đến là các định hướng Hội An phát triển bền vững bao gồm tăng cường phục hồi các hệ sinh thái cơ bản của Hội An bao gồm vùng cửa sông Thu Bồn – Hội An, rừng ngập mặn, bờ biển, thảm cỏ biển, rạn san hô, rừng tự nhiên trên đảo, và tiếp cận quản lý, bảo vệ, bảo tồn, sử dụng lợi ích mang lại từ các dịch vụ hệ sinh thái theo các chỉ thị, chỉ số sức khỏe của các hệ sinh thái trên.

Trong thời gian qua, Hội An chưa đề cập đến các dịch vụ của hệ sinh thái (thiên nhiên) mang lại cho con người, như chất lượng nguồn nước, điều hòa khí hậu, vùng giống, nơi ở, chống xói lở, bãi đẻ, duy trì nguồn lợi, tạo cảnh quan. Hội An cũng chưa đề cập hoặc rất ít đề cập đến chức năng cung câp thông qua cấu trúc hệ sinh thái, như các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng thường xanh trên núi Cù Lao Chàm. Trong khi cấu trúc hệ sinh thái là nền tảng của sự hình thành các chức năng dịch vụ của hệ sinh thái và là tiền đề của các lợi ích mà hệ sinh thái (thiên nhiên) mang lại con người.

Một khi cấu trúc hệ sinh thái bị phá vở thì phải mất hàng chục hoặc trăm năm mới gầy dựng lại được, đôi khi mất vĩnh viễn như rừng ngập mặn bị san lấp, rạn san hô bị chết, bãi biển bị xói lở. Hiện nay cấu trúc hệ sinh thái và sức khỏe hệ sinh thái như rạn san hô, thàm cỏ biển, rừng ngập mặn, bãi biển, vùng cửa sông tại Hội An và Cù Lao Chàm đã và đang bị uy hiếp, tổn thương ngày một trầm trọng. Hội An có thể nhận thấy điều này môt cách dễ dàng qua quan sát, qua các kết quả nghiên cứu, đánh giá chất lượng môi trường và đa dạng sinh học. Vì vậy không phải là quá muộn mà cũng không phải là quá sớm để thảo luận và có giải pháp hành động vì sự phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường tại Hội An và Cù Lao Chàm; tuy nhiên cũng sẽ là quá trễ nếu Hội An không hành động bây giờ vì các tác động bao giờ cũng mang tính tích lũy, thông qua các sự cố (shock) và ảnh hưởng diễn biến (stress). Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu cần được bảo vệ của thiên nhiên từ cộng đồng và tính bền vững của sự phát triển kinh tế - xã hội, khái niệm Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (community based environnemental management) được triển khai áp dụng tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An. Đồng thời để nắm bắt được khái niệm này, một chuyên đề cùng tên được hình thành và được xây dựng trên nền tảng kiến thức chung về môi trường, kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động vận động cộng đồng tham gia chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý môi trường. Chuyên đề được cấu trúc bao gồm các chương: thành phần môi trường bao gồm đất, nước, không khí và đa dạng sinh học; cấu trúc, chức năng, dịch vụ của một vài kiểu hệ sinh thái cơ bản, ô nhiễm môi trường, tổn thương hệ sinh thái, suy giảm chức năng và dịch vụ; cộng đồng và các kỹ thuật làm việc cộng đồng; phân tích trường hợp nghiên cứu cụ thể tại địa phương về hiện trạng môi trường; xây dựng dự án quản lý môi trường dựa vào cộng đồng. Chuyên đề hỗ trợ sinh viên tổng hợp và kết nối với các kiến thức phổ thông cơ bản về tự nhiên và xã hội. Chuyên đề đồng thời mở rộng khả năng cho sinh viên được tiếp cận với các trường hợp nghiên cứu thực tiễn, cũng như tạo điều kiện cho sinh viên rèn luyện các kỹ năng làm việc nhóm, thuyết phục và vận động đồng. Chuyên đề được thiết kế bao gồm các phần học lý thuyết, thực hành nhóm, thực tế và tự học.

Quá trình nhận thức của sinh viên là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu; cơ bản có những điểm giống nhận thức của loài người, của nhà khoa học và của học sinh trường phổ thông, đó là đều diễn ra theo quy luật từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn; đều huy động hoạt động tư duy của con người ở mức độ cao nhất; đều làm cho vốn hiểu biết của con người ngày càng hoàn thiện và phong phú, tuy nhiên lại có những nét độc đáo, cao hơn quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận thức của các nhà khoa học [1]. Vì vậy sinh viên quản lý môi trường thường được tiếp cận nhiều bài tập nhóm với mục đích là được rèn luyện nhằm có khả năng thâm nhập vào thực tiễn xây dựng và trình bày một vấn đề về môi trường và tài nguyên trước cộng đồng (Hình 1). Sinh viên cần được luyện tập xây dựng một nội dung nghiên cứu, trình bày, giới thiệu hoặc kiến nghị về tài nguyên và môi trường trên cơ sở các nguồn thông tin, tài liệu về địa phương. Đồng thời gắn liền với điều kiện thực tế sinh viên hiểu và áp dụng được các công cụ làm việc cộng đồng như: phân tích các bên liên quan, lập bản đồ phân bố nguồn lợi, lịch mùa vụ, phân tích chuổi thời gian lịch sử, thời gian hoạt động trong ngày, phân tích DPSIR, SMART, SWOT, lập cây vấn đề, cây mục tiêu. Đây là các công cụ cơ bản dùng trong hoạt động thu thập thông tin, tập hợp người dân, trao đổi, thảo luận về quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường tại địa phương.

Teaching theory02

Hình 2: Tiếp cận đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng bảo vệ môi trường tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An

Để đảm bảo cho phát triển bền vững tại Cù Lao Chàm và Hội An, sức khỏe các hệ sinh thái đăc trưng tại vùng này bao gồm rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, rừng ngập mặn, rừng tự nhiên trên đảo, vùng cửa sông cần phải được quan tâm theo những hành động cụ thể từ Khu Bảo tồn biển và Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An.

Áp dụng hệ thống các nguyên tắc trong quá trình truyền thông, giáo dục nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học, giáo dục và nghề nghiệp; giữa lý luận và thực tiễn nghề nghiệp; giữa cái cụ thể và cái trừu tượng; giữa tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẽo của tư duy; giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng; giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập của cộng đồng với vai trò chủ đạo của người cán bộ quản lý môi trường; giữa cá nhân và tập thể trong quá trình truyền thông, giáo dục. Đồng thời, một tiếp cận kiểm tra – đánh giá hiệu quả bảo tồn cũng nguồn nhân lực phục vụ bảo tồn được hình thành (Hình 2). Tiếp cận kiểm tra – đánh giá là những vòng đồng tâm phát triển bền vững bao gồm: Vòng 1: Trọng tâm là nguồn nhân lực của cơ quan hiện tại được phân bổ trong 5 phòng, ban là: Phòng Tổ chức – Hành chính – Kế toán; Phòng Tuần tra – Giám sát – Quản lý du lịch; Phòng Du lịch sinh thái; Phòng Nghiên cứu và Quan hệ Quốc tế; và Ban Thư ký Khu Dự trữ Sinh quyển. Vòng 2: Đặc trưng là các nhiệm vụ của Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An bao gồm đại diện như quy hoạch phân vùng, sinh kế bền vững, tuần tra giám sát, nghiên cứu khoa học, giáo dục, truyền thông, đào tạo, du lịch sinh thái…Như vậy vòng 2 là tập trung sáng kiến và điều chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội để bảo vệ, bảo tồn các hệ sinh thái và tăng cường khả năng thích ứng cho các hệ sinh thái và cộng đồng tại đây. Phần này đòi hỏi năng lực của nguồn lực chuyên môn cho hành động của Khu Dự trữ Sinh quyển. Vòng 3: Tập trung vào sức khỏe của các hệ sinh thái tại địa phương. Vòng 4: Đặc trưng sự bền vững của địa phương bao gồm các quan tâm: môi trường, kinh tế, xã hội, chính sách. Kết quả đánh giá sức khỏe hệ sinh thái, kinh tế xã hội và chính sách thông qua các chỉ số từ các chỉ thị sẽ là định hướng cho việc cải thiện nhiệm vụ, tiếp cận với các thực hành bền vững, áp dụng phương pháp công cụ mới, phù hợp. Một hệ thống giám sát đánh giá được thiết lập và duy trì thường xuyên.

Tiếp cận hướng tâm: Đây là hướng tiếp cận tập trung vào mục tiêu tuyển chọn, đào tạo nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An; hướng này đi từ định hướng phát triển bền vững với các cột trụ bao gồm kinh tế, môi trường, xã hội, chính sách. Hướng phát triển đó dựa trên nền tảng sức khỏe các hệ sinh thái hài hòa với văn hóa truyền thống và hỗ trợ cho cải thiện sinh kế cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đồng thời tập trung vào phương pháp và các thực hành tiếp cận bền vững. Trên cơ sở nhiệm vụ, nguồn nhân lực được phân bổ vào các phòng ban chuyên môn của Khu Dự trữu Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An.

 

Teaching theory03

Hình 3: Tiếp cận kiểm tra – đánh giá hiệu quả bảo tồn

Tiếp cận phân tâm: Đây là hướng tiếp cận phân tích kết quả lan tỏa của hoạt động nhằm đánh giá lao động của nguồn nhân lực. Trên cơ sở này, kết quả lao động được đề cập theo sự phân công từ các phòng ban của Khu Dự trữ Sinh quyển được thông qua theo sự hoàn thành các nhiệm vụ theo hoạt động. Tuy nhiên, kết quả hoạt động cần được sàng lọc một cách rộng hơn đó là theo đánh giá sức khỏe hệ sinh thái, mức cải thiện sinh kế và sự đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Và sau cùng là sự hỗ trợ cho phát triển bền vững của thành phố, vùng, khu vực. Tiếp cận vòng tròn đồng tâm phát triển bền vững cung cấp cơ sở khoa học trong tuyển chọn, đào tạo, đánh giá nguồn nhân lực Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An, một cách phù hợp với nhu cầu thực tiễn và phát triển trong tương lai.

Chất lượng đào tạo, truyền thông và giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An ngày dần được nâng cao theo luận điểm 4 trụ cột của giáo dục trên cơ sở lý luận dạy học đại học. Hoạt động đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, đã và đang đáp ứng được mục đích nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, hình thành thói quen, nếp sống văn minh đô thị, bảo vệ môi trường và trách nhiệm với cuộc sống, vì lợi ích mọi người, lợi ích thiên nhiên, hướng đến phát triển bền vững. Hoạt động đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An cần phải được thực hiện theo sự phối hợp giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học, và người dân, đa dạng về hình thức, nội dung và duy trì một cách liên tục theo thời gian. Truyền thông và giáo dục cộng đồng cần chú ý đến hoạt động nghiên cứu và trao đổi thông tin nhằm có thể bắt kịp với phát triển kinh tế xã hội và ứng dụng khoa học công nghệ giúp cộng đồng tiếp cận và chuyển đổi được thói quen nhanh chóng và hiệu quả.

Tham gia nghiên cứu tại địa phương thông qua các hoạt động đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An, người sinh viên hòa nhập vào thực tế hiểu rõ được 4 luận điểm giáo dục, học để biết, để làm, để hợp tác cùng mọi người và để khẳng định lấy chính mình. Thông qua các hoạt động điều tra, thiết kế, giảng dạy, giám sát, đánh giá công tác truyền thông, giáo dục cộng đồng tham gia các hoạt động của Khu Sinh quyển, người sinh sinh viên tự đào tạo và khẳng định lấy chính mình trước tập thể nhóm và xã hội một khi ghi nhận được sự chuyển biến hành vi của mọi người tham gia bảo vệ môi trường ngày một tốt đẹp hơn. Sự tham gia và hỗ trợ của sinh viên tham gia nghiên cứu theo hoạt động đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường đã đóng góp một phần công sức, trí tuệ tạo nên sự thành công của việc triển khai áp dụng tiếp cận bảo tồn và sinh quyển tại địa phương. Đồng thời kết quả hoạt động cũng cho thấy rằng tham gia nghiên cứu, học tập tại địa phương không chỉ là cầu nối tạo điều kiện giúp cho người sinh viên gắn liền học đi đôi với hành, mà còn là nhà trường với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường. Vì vậy, đã đến lúc xã hội và nhà trường cần phải cùng sát cánh với nhau trong sự nghiệp đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ tương lai cũng như cộng đồng hôm nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đậu Thị Hòa (2014), Đề cương Bài giảng Lý luận Dạy học Đại học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.

[2] Chu Mạnh Trinh, Phạm Văn Hiệp (2015), Đồng quản lý rác thải sinh hoạt góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh tại địa phương và khu vực. Bài học kinh nghiệm từ trường hợp thành phố Hội An, Quảng Nam, BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam.

Chu Mạnh Trinh – Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

.
 
Keonhacai