QUẢN LÝ XUNG ĐỘT TRONG ĐỒNG QUẢN LÝ CUA ĐÁ TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TỈNH QUẢNG NAM.

PDF.InEmail

TÓM TẮT

Mô hình đồng quản lý cua đá Cù Lao Chàm được gầy dựng từ cộng đồng, nhận được sự ủng hộ của chính quyền địa phương, góp phần rất lớn vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Hiệu quả của mô hình đã được cộng đồng, nhà khoa hoc và nhà quản lý đánh giá cao. Nhiều mô hình hay nhưng trong quá trình vận hành không giải quyết được các xung đột phát sinh thì hiệu quả mô hình sẽ bị ảnh hưởng. Bài báo phân tích các xung đột hiện đang tồn tại trong mô hình đồng quản lý cua đá, đồng thời đề ra những giải pháp nhằm ổn định, và bền vững mô hình trong thời gian đến.

1. Đặt vấn đề

Từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2012, thông qua các hoạt động điều tra, tuyên truyền, hội thảo, hội thi sáng tác logo xây dựng nhãn sinh thái, thử nghiệm công năng của nhãn sinh thái, thành lập tổ cộng đồng, xây dựng quy chế và trang thiết bị cho Tổ cộng đồng, Mô hình đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm đã được hình thành [4].

Sau thời gian nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết, vận động người dân, tiến hành thử nghiệm, mô hình đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm đã được triển khai và áp dụng tại địa phương. Mô hình nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương, sự hợp tác của các nhà tài trợ quốc tế về bảo tồn cua đá; các nhà khoa học; người dân và doanh nghiệp [3]. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, những xung đột lợi ích giữa các bên liên quan bắt đầu nảy sinh, điều này gây ra nhiều thách thức đến sự bền vững của mô hình. Phân tích các xung đột, từ đó hài hòa mối quan hệ giữa các bên liên quan, đề ra những giải pháp nhằm ổn định và bền vững mô hình trong thời gian đến là hết sức cần thiết.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập có chọn lọc, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của cộng đồng, nhà khoa học, tổ chức trong và ngoài nước.

2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để lấy thông tin từ khách du lịch, đại diện nhà khoa học; đại diện nhà quản lý; đại diện cộng đồng trong và ngoài tổ bảo vệ và khai thác hợp lý cua đá cù Lao Chàm.

2.3. Mô hình DPSIR

Sử dụng nhằm mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa hiện trạng, áp lực, động lực và các đối ứng trong mô hình đồng quản lý cua đá Cù Lao Chàm.

2.4. Phương pháp xác định cây vấn đề

Sau khi sử dụng mô hình DPSIR để xác định hiện trạng, tác động, áp lực và đối ứng của các vấn đề trong thực trạng đồng quản lý cua đá Cù Lao Chàm, đề tài bố trí các vấn đề vào cây vấn đề nhằm xác định nguyên nhân và hậu quả của các hiện tượng một cách logic.

2.4. Phân tích SWOT: Phân tích SWOT là việc phân tích các thế mạnh, điểm yếu, những cơ hội, thách thức của mô hình đồng quản lý cua đá, qua đó đưa ra được những giải pháp phù hợp và hiệu quả.

2.5 Sơ đồ Venn: Nhằm xác định mối quan hệ giữa các bên liên quan, mức độ tác động và mức độ quan hệ của các bên trong đồng quản lý cua đá.

2.6 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu, thống kê: Sử dụng phần mềm Excell để xử lý các bảng hỏi.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1 Xung đột trong đồng quản lý cua đá tại đảo Cù Lao Chàm

Qua nghiên cứu, Đề tài đã xác định được các vấn đề tồn tại trong thực trạng đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm và bố trí các vấn đề vào mô hình DPISR, từ kết quả phân tích mô hình DPISR đề tài sử dụng công cụ phân tích cây vấn để tìm ra nguyên nhân và hậu quả. Đề tài đã xác định được 4 cây vấn đề gồm: cây vấn đề thể hiện mô hình ĐQL cua đá bền vững; cây vấn đề thể hiện cho mô hình ĐQL cua đá kém hiệu quả; cây vấn đề thể hiện số lượng cua đá ngoài tự nhiên bị suy giảm; cây vấn đề thể hiện sinh kế của cộng đồng bị đe dọa.

Phân tích bản chất xung đột trong ĐQL cua đá dựa vào mô hình DPISR và cây vấn đề, Đề tài xác định các xung đột trong mô hình đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm bao gồm:

3.1.1. Xung đột giữa bảo tồn và phát triển

Trước áp lực về khai thác phục vụ du lịch, Cộng đồng đề xuất cần có những giải pháp bảo vệ cua đá và năm 2003 cua đá được cộng đồng lựa chọn là một trong sáu tài nguyên mục tiêu của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Năm 2009, Cù Lao Chàm được công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới, sự gia tăng khách du lịch một cách nhanh chóng kéo theo nhu cầu sử dụng cua đá tăng lên, sự hấp dẫn về giá cả đã dẫn đến việc khai thác quá mức làm cho cua đá bị cạn kiệt. Năm 2009, UBND thành phố Hội An đã ban hành Chỉ thị 04 về việc tăng cường quản lý, bảo vệ động thực vật thuỷ sinh Cù Lao Chàm nhằm bảo tồn loài động vật này. Như vậy từ năm 2003, cua đá đã được xác định là động vật cần phải được bảo tồn.

Bảo tồn không có nghĩa là đóng cửa tất cả mà bảo tồn là để phát triển. Nếu như chúng ta cấm khai thác chính là chúng ta đang đi ngược với sự phát triển, bởi hoạt động cấm khai thác hoàn toàn một đối tượng tài nguyên nào đó trong tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của quy luật, đảo lộn chuỗi thức ăn trong tự nhiên, thay đổi các hệ sinh thái.

Mô hình đồng quản lý cua đá do chính cộng đồng thành lập, xây dựng quy chế với việc khai thác cua đá theo quy định vừa mang lại thu nhập cho các hộ dân có thu nhập chính từ khai thác cua đá, vừa giảm được áp lực khai thác và góp phần bảo tồn cua đá. Như vậy cua đá vừa được bảo tồn nhưng cũng vừa được khai thác để phục vụ sự phát triển.

Cuada14102016-01

Hình 1: Người dân tham gia dán nhãn sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm

Có nhiều vấn đề trong quá trình vận hành mô hình đồng quản lý như sự đóng góp kinh phí của tổ cộng đồng thông qua việc trích lại 10% giá bán mỗi kg cua, mô hình nuôi cua đá phục vụ nghiên cứu khoa học, hay kêu gọi sự hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà khoa học, các tổ chức phi chính phủ đã làm cho cua đá có thêm cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp bảo tồn, góp phần nâng cao hiệu quả đồng quản lý cua đá.

Tuy nhiên do nhu cầu phát triển ngày càng cao, một số hoạt động phát triển làm ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sản lượng cua đá ngoài tự nhiên, làm quá trình vận hành mô hình gặp nhiều khó khăn.

Theo kết quả khảo sát, có 27/90 khách du lịch được hỏi cho rằng khi đến thăm quan Cù Lao Chàm có nhu cầu sử dụng cua đá. Như vậy sự phát triển của hoạt động du lịch trong những năm gần đây kéo theo nhu cầu sử dụng cua đá tăng cao, gây áp lực lên tài nguyên cua đá.

Nhu cầu sử dụng cao kéo theo giá cua đá tăng vọt, lợi nhuận khiến ngày càng có nhiều người tham gia khai thác và số lượng cua đá bị khai thác nhiều hơn. Giá cua đá từ 500.000đồng/1kg năm 2011 đã tăng lên 800.000/1kg vào năm 2015. Từ lúc thành lập Tổ khai thác bảo vệ cua đá chỉ có 18 người (01/3/2013), sau đó số người xin gia nhập liên tục gia tăng, đến tháng 4/2013 là 33 người, và hiện tại là 37 người. “Bên cạnh đó, còn rất nhiều đối tượng khai thác khác, chủ yếu là người dân trên đảo, học sinh, sinh viên. Những người này chủ yếu tham gia bắt cua vào mùa cua sinh sản” [2]

Kết quả nghiên cứu năm 2015, chỉ ra “59,9% cộng đồng cho rằng hoạt động khai thác trái phép là nguyên nhân chính dẫn đến số lượng cua đá suy giảm trong những năm gần đây” [1]

Như vậy dù mặc dù đá đã được bảo vệ bởi các quy định của mô hình đồng quản lý nhưng do nhu cầu phát triển nên cua đá vẫn chịu những tác động tiêu cực. Nhu cầu phát triển đa dạng nhưng những hoạt động phục vụ phát triển chưa hài hòa với các biện pháp nhằm bảo tồn cua đá, làm phát sinh mâu thuẩn đi ngược với mục tiêu bảo tồn cua đá.

3.1.2. Xung đột giữa cung – cầu

Cua đá hiện nay đang được quản lý bởi chỉ thị 04 về việc tăng cường quản lý, bảo vệ động thực vật thuỷ sinh Cù Lao Chàm. Đồng thời cua đá còn chịu sự giám sát của quy chế đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm. Cua đá hiện nay chỉ được khai thác trong những khu vực được cho phép, trong khoảng thời gian nhất định. Số lượng cua đá khai thác mỗi năm cũng bị giới hạn, UBND thành phố Hội An cấp phép 10.000 nhãn trong một năm. Như vậy việc cung cấp cua đá là có giới hạn về không gian, thời gian và số lượng.

Theo kết quả phỏng vấn, vào mùa được phép khai thác cua đá, có 19/45 khách du lịch được hỏi trả lời là có nhu cầu sử dụng cua đá. Vào mùa cấm khai thác cua đá, có 8/45 khách du lịch được hỏi trả lời là có nhu cầu sử dụng cua đá. Việc sử dụng cua đá không chỉ dừng lại ở việc muốn được xem, được ăn mà còn được mua mang về đất liền làm quà. Cua đá bị khai thác có giới hạn, trong khi nhu cầu sử dụng cua đá của du khách ngày càng cao, nhu cầu trong mùa được phép khai thác và cả mùa cấm khai thác cua đá.

Nếu như làm các bài toán so sánh, trong 90 khách du lịch khi được hỏi trong mùa khai thác và mùa cấm khai thác có 27 người có nhu cầu sử dụng cua đá, năm 2014 có 232.343 lượt khách thì sẽ có 69.703 khách có nhu cầu sử dụng cua đá. Tuy nhiên số nhãn sinh thái cấp cho cộng đồng trong năm 2014 là 2808 nhãn thì tương ứng với 2808 con cua đá đạt chuẩn được dán nhãn. Nếu một người khách chỉ sử dụng 1 con cua đá, thì lượng cua đá tổ cộng đồng cung ứng chỉ chiếm 4,04% nhu cầu sử dụng của khách du lịch.

Cuada14102016-02

Hình 2: Cua Đá Cù Lao Chàm được dán nhãn sinh thái

Như vậy hiện nay trong mô hình đồng quản lý có xuất hiện mâu thuẩn giữa nguồn cung và nhu cầu sử dụng. Nguồn cung thì có giới hạn về thời gian và số lượng, trong khi nhu cầu thì không giới hạn về thời gian, nhu cầu cả trong mùa khai thác và mùa cấm với và nhu cầu sử dụng cua đá tăng theo chiều tăng của lượng khách đến đảo. Nguồn cung cấp cua đá bởi các thành viên trong tổ khai thác và bảo vệ cua đá chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của khách du lịch. Kết quả khảo sát cho thấy có hiện tượng bắt cua mang trứng mang về nuôi đến khi rụng trứng rồi mang đi dán nhãn, cua có chiều dài mai cua dưới 7cm vẫn được dán nhãn, nhà hàng bán cua không dán nhãn, các biểu hiện trên cũng là những biểu hiện của việc cung không đáp ứng được cầu.

3.1.3. Xung đột giữa ban hành quy định và thực thi quy định

Tuân thủ các quy định trong quá trình vận hành mô hình đồng quản lý, cua đá đã được khai thác văn minh hơn, bền vững hơn, góp phần tích cực vào công tác bảo tồn loài động vật này. Nhưng trên thực tế việc cộng đồng và khách du lịch biết đến các quy định này còn thấp. Qua trao đổi thực tế, hầu hết thành viên tổ cộng đồng nắm được các quy định liên quan đến khai thác và bảo vệ cua đá. Tuy nhiên đối với nhóm cộng đồng không tham gia tổ khai thác và bảo vệ cua đá, khách du lịch thì việc thực thi những quy định này còn hạn chế.

Kết quả khảo sát 3/90 khách biết chỉ có cua đá dán nhãn sinh thái mới được phép lưu thông trên thị trường. Như vậy việc nắm và hiểu đúng hoàn toàn các quy định mới chỉ dừng lại ở tổ cộng đồng khai thác vào bảo vệ cua đá, 46,7% nhóm cộng đồng không tham gia tổ khai thác và bảo vệ cua đá và một bộ phận rất ít khách du lịch [1].

Ban hành các quy định nhưng việc tuyên truyền, phổ biến các quy định còn hạn chế dẫn đến cộng đồng chưa hiểu, chưa chấp nhận về nội dung quy định. Chính sự hiểu biết, chấp nhận về nội dung của các quy định còn hạn chế của nhóm cộng đồng ngoài tổ khai thác và bảo vệ cua đá dẫn đến việc khai thác trái phép, có đến 59.9% cộng đồng cho rằng nguyên nhân suy giảm cua đá là do khai thác trái phép [1]. Ngoài ra việc chưa được tuyên truyền, phổ biến các quy định làm khách du lịch sử dụng cua không dán nhãn sinh thái, và tạo điều kiện cho các nhà hàng bán cua đá không dán nhãn.

3.1.4. Xung đột lợi ích giữa nhóm người trong và ngoài tổ khai thác và bảo vệ cua đá.

Cua đá là tài nguyên chung, tài sản chung của cộng đồng Cù Lao Chàm, tuy nhiên không phải ai cũng được phép khai thác. Hiện nay, chỉ có những thành viên tổ cộng đồng khai thác và bảo vệ mới được phép khai thác cua đá, và khai thác phải tuân thủ các quy định về quản lý. Ngoài tổ cộng đồng được phép bắt cua thì một bộ phận người dân như học sinh, sinh viên mùa nghỉ hè, người ngư dân lúc biển động hoặc khai thác không có thu nhập có nhu cầu bắt cua đá để có thêm thu nhập để trang trải việc học, và sinh hoạt gia đình.

Kết quả khảo sát cho thấy, Tổ cộng đồng được phép khai thác cua đá không hài lòng với việc người ngoài tổ cũng tham gia khai thác cua đá, điều này làm cho thu nhập của các thành viên trong tổ cộng đồng so phải chia sẻ lượng cua đạt chuẩn, lượng cua đạt chuẩn những năm sau sẽ giảm do bị khai thác nhiều và khai thác trái phép, ảnh hưởng đến thu nhập của các thành viên trong tổ. Các thành viên trong tổ cộng đồng phải khai thác có giới hạn không gian, thời gian và quy định, đồng thời phải tham gia các hoạt động bảo vệ cua đá. Trong khi đó cộng đồng không thuộc tổ lại khai thác không giới hạn và không tuân theo quy định.

Nhóm cộng đồng ngoài tổ khai thác và bảo vệ cua đá thì cảm thấy bất công khi tài nguyên chung, có nhu cầu khai thác để trang trải cuộc sống gia đình, học tập nhưng không được phép khai thác vì không phải là thành viên tổ cộng đồng. Giá bán cua đá của nhóm cộng đồng này thường thấp hơn giá bán cua đá của tổ cộng đồng, cộng đồng không quan tâm nhiều đến hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua đá vì họ cho rằng sự phục hồi và phát triển cua đá không liên quan hay không đem đến lợi ích gì cho nghề nghiệp của họ, hoạt động này chỉ đem đến lợi ích cho Tổ cộng đồng [1].

Như vậy hiện nay trong đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm có xuất hiện xung đột lợi ích giữa người nhóm cộng đồng trong và ngoài tổ khai thác và bảo vệ cua đá.

3.1.5. Xung đột giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.

Cua đá hiện nay đã là thương hiệu, là sản phẩm du lịch mang lại thu nhập cho cộng đồng Cù Lao Chàm. Mô hình đồng quản lý cua đá mang lại lợi ích trước mắt cho cộng đồng thông qua việc giải quyết sinh kế, tạo nguồn thu nhập. Đồng thời cũng mang lại lợi ích lâu dài đó là cua đá được bảo vệ, không bị cạn kiệt trong tương lai.

Tuy nhiên trong quá trình vận hành mô hình tồn tại những vấn đề hạn chế do chỉ tập trung vào lợi ích trước mắt làm ảnh hưởng đến tài nguyên lâu dài. Qua ghi nhận từ cộng đồng, hiện nay có tình trạng khai thác cua đá mang trứng về nuôi đến khi rụng hết trứng thì mang đi dán nhãn, có tình trạng cua đá dán nhãn vẫn còn bán sau ngày 31/7.

Qua thực tế, nghiên cứu ghi nhận 2 cá thể cua đá có chiều dài mai cua nhỏ hơn 7cm vẫn được dán nhãn và lưu thông trên thị trường. Những vấn đề trên nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt là có cua đá bán cho khách du lịch để mang lại thu nhập mà không quan tâm đến vi phạm quy chế đồng quản lý cua đá, làm mất niềm tin của cộng đồng vào giá trị của nhãn sinh thái, giảm hiệu quả hoạt động của mô hình. Đồng thời việc khai thác cua đá mang trứng, cua chưa đủ kích thước sẽ làm giảm lượng cua đá đủ kích thước cho năm kế tiếp. Cua đá bị suy giảm kích thước, suy giảm số lượng sẽ ảnh hưởng đến số lượng cua đá ngoài tự nhiên, ảnh hưởng đến thu nhập của cộng đồng.

Giá cua đá không dán nhãn thường ít hơn giá cua đá dán nhãn từ 200.000 đồng đến 300.000đồng trên 1 kg. Vì lợi nhuận cao nên nhà hàng bán cua đá không dán nhãn cho du khách tạo ra sự gian lận trong buôn bán, làm mất giá trị nhãn sinh thái, mất niềm tin trong mắt du khách và lâu dài là mất điểm đến, lượng khách du lịch giảm dẫn đến mất sinh kế.

Như vậy mô hình đồng quản lý cua đá hiện nay đang tồn tại 5 xung đột lớn đó là: xung đột giữa bảo tồn và phát triển; xung đột giữa cung – cầu; xung đột giữa ban hành quy định và thực thi quy định, xung đột lợi ích giữa nhóm người trong và ngoài tổ khai thác và bảo vệ cua đá; Xung đột giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Qua quá trình thực tế và phân tích, đề tài xác định xung đột lớn nhất trong mô hình đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm hiện nay là xung đột cung – cầu. Mô hình đồng quản lý chỉ bền vững trong một giới hạn nhất định, trong khi lượng khách và nhu cầu sử dụng cua đá là bất biến và luôn làm cho mô hình phải biến động.

Nghiên cứu xác định: “xung đột lớn nhất trong đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm là xung đột giữa cung – cầu”. Giải quyết được xung đột cung – cầu sẽ giảm áp lực khai thác lên cua đá, hạn chế được nguyên nhân dẫn đến các xung đột khác.

3.2 Nghiên nhân dẫn đến xung đột trong mô hình ĐQL Cua đá Cù Lao Chàm

a. Mức độ hiểu biết ý nghĩa nội dung của hoạt động khai thác và bảo vệ cua đá còn hạn chế.

b. Cộng đồng chưa tuân thủ các quy định về bảo vệ và khai thác hợp lý cua đá.

c. Công tác truyền thông, tuyên truyền phổ biến các quy định chưa rộng rãi.

d. Nhu cầu sử dụng cua đá của khách du lịch và chính cộng đồng xã đảo.

e. Thông tin khoa học liên quan đến cua đá Cù Lao Chàm còn hạn chế.

f. Ban hành các quy định nhưng chưa có các dấu hiệu để nhận biết các sai phạm.

g. Quá trình phát triển kinh tế phục vụ lợi ích trước mắt mà ít chú ý đến tác động về sau.

h. Quá trình phát triển các hoạt động thông tin chưa được chia sẻ.

Đề tài chỉ ra nguyên nhân cốt lõi vẫn là nhận thức trong việc chấp hành các qui định hiện hành của tất cả các bên liên quan chưa cao, qui trình thực hiện còn nhiều điểm yếu, và quan trọng là cơ chế hợp tác của các bên liên quan mà cụ thể là nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và cộng đồng chưa được kết nối để mô hình đồng quản lý cua đá phát huy tối đa hiệu quả trong quá trình vận hành.

3.3 Giải pháp quản lý xung đột trong ĐQL Cua đá Cù Lao Chàm

3.3.1 Giải pháp trước mắt

a. Giới hạn lượng khách đến Cù Lao Chàm trong một ngày để giảm áp lực khai thác lên cua đá nói chung và tài nguyên thiên nhiên ở Cù Lao Chàm nói chung;

b. Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và khách du lịch thông tin liên quan đến mục đích bảo tồn cua đá, các quy định đồng quản lý cua đá;

c. Hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển d. Kêu gọi sự tham gia của các nhà khoa học, tổ chức phi chính phủ để được hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học như:

3.3.2 Giải pháp lâu dài

Hiện tại việc quản lý, khai thác, bảo tồn cua đá Cù Lao Chàm được rất nhiều các cơ quan, đơn vị, cá nhân cùng thực hiện tuy nhiên mức độ phối hợp, chia sẻ thông tin còn hạn chế, cơ chế phối hợp trong quản lý còn nhiểu kẻ hở, phát sinh nhiều mâu thuẫn, chưa phát huy hết hiệu quả của mô hình. Vì vậy giải pháp lâu dài, bền vững cho việc quản lý các xung đột tại Cù Lao Chàm phải liên kết được các bên liên quan lại với nhau.

Giải pháp lâu dài cho quản lý xung đột trong ĐQL cua đá Cù Lao Chàm là chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm, lợi ích giữa có bên liên quan thông qua xây dựng cơ chế hợp tác 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp Việc tạo cơ chế hợp tác 4 nhà sẽ tạo được sự vào cuộc một cách có trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị, tổ chức có liên quan trong cả quá trình quản lý, khai thác, tiêu thụ sản phẩm đặc hữu, tài nguyên quí và giá trị rất cao của đảo Cù Lao Chàm. Thông qua cơ chế hợp tác nhằm nâng cao giá trị và cơ chế quản lý bền vững đối với tài nguyên cua đá nói riêng, tiến tới quản lý toàn diện các tài nguyên tương tự khác một cách bền vững. Kết quả khảo sát các bên liên quan cũng cho thấy rằng “giải pháp liên kết 4 nhà là giải pháp giảm thiểu xung đột bền vững nhất cho mô hình đồng quản lý cua đá tại Cù Lao Chàm hiện nay”.

Cơ chế liên kết 4 nhà nhằm tạo sự tham gia một cách có trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị, tổ chức có liên quan trong cả quá trình quản lý, khai thác, tiêu thụ sản phẩm đặc hữu, tài nguyên quí và giá trị rất cao của đảo Cù Lao Chàm. Thông qua cơ chế hợp tác nhằm nâng cao giá trị và cơ chế quản lý bền vững đối với tài nguyên cua đá nói riêng, tiến tới quản lý toàn diện các tài nguyên tương tự khác một cách bền vững.

4. Kết luận và kiến nghị

1. Kết luận

Quá trình vận hành một mô hình luôn phát sinh những xung đột, xung đột để phát triển, có thể đó là xung đột mà khi giải quyết xung đột này sẽ góp phần làm mô hình bền vững hơn và có thể là xung đột mà nếu không được gải quyết sẽ làm cho mô hình sụp đổ.

Cua đá là sinh vật đặc trưng tại đảo Cù Lao Chàm, trước áp lực về khai thác cua đá đã được bảo vệ bởi các quy định do chính cộng đồng đề xuất thông qua mô hình đồng quản lý. Cua đá vừa được ưu tiên bảo vệ, vừa được khai thác hợp lý phục vụ nhu cầu phát triển vì vậy nghiên cứu cua đá là đại diện cho mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.

Mô hình đồng quản lý cua đá ở Cù Lao Chàm đã góp phần vào việc giải quyết sinh kế cho cộng đồng vừa góp phần vào công tác bảo tồn cua đá thông qua việc ban hành được quy chế khai thác cua đá có giới giạn về không gian, thời gian và khai thác theo quy định để cua đá được khai thác văn minh hơn, khoa học hơn.

Nghiên cứu khẳng định mô hình đồng quản lý cua đá Cù Lao Chàm hiện nay đang tồn tại 5 xung đột lớn đó là: xung đột giữa bảo tồn và phát triển; xung đột giữa cung – cầu; xung đột giữa ban hành quy định và thực thi quy định, xung đột lợi ích giữa nhóm người trong và ngoài tổ khai thác và bảo vệ cua đá; Xung đột giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Và nghiên cứu khẳng định: Xung đột lớn nhất hiện nay trong ĐQL cua đá tại Cù Lao Chàm là xung đột cung – cầu.

Xung đột không hoàn toàn là không tốt, bất thường, mà hoàn toàn là thực tế của cuộc sống. Nghiên cứu đã xác định được các nguyên nhân dẫn đến xung đột, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm phát huy các xung đột có lợi, và hạn chế những xung đột làm ảnh hưởng đến hiệu quả mô hình, làm cạn kiệt cua đá.

Đề tài cũng đã thiết lập được một quy trình quản lý các xung đột trong đồng quản lý tài nguyên ngắn gọn, súc tích và có khả năng nhân rộng cho các mô hình đồng quản lý tài nguyên khác.

2. Kiến nghị

Để góp phần giải quyết các xung đột, đề tài đề xuất một số kiến nghị sau:

- Cần triển khai các nghiên cứu sâu hơn về quản lý xung đột trong mô hình đồng quản lý cua đá, đặc biệt mở rộng thành phần và số lượng các bên liên quan tham gia cung cấp thông tin để kết quả nghiên cứu được chính xác nhất. Từ đó, đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm quản lý tốt các xung đột trong đồng quản lý cua đá; hoàn thiên quy trình quản lý xung đột trong đồng quản lý tài nguyên;

- Đa dạng hóa các đối tượng truyền thông và phương pháp truyền thông

Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng không chỉ tập trung vào tổ cộng đồng khai thác cua Đá mà còn phải cho nhiều đối tượng khác, đặc biệt là cộng đồng và du khách. Các hoạt động truyền thông như tổ chức các chương trình ngoại khóa, cuộc thi tìm hiểu, tuyên truyền qua poster, brochure, loa đài, hội họp, chia sẻ trên mạng xã hội.. nhằm thu hút sự quan tâm và tham gia của cộng đồng, du khách.

- Triển khai thí điểm cơ chế hợp tác 4 nhà (nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân) trong hoạt động bảo vệ và khai thác bền vững cua đá tại Cù Lao Chàm.

Phạm Thị Kim Phương (1) , Tôn Thất Pháp (2) , Chu Mạnh Trinh (3)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

..
 
Keonhacai