Một số kết quả, hạn chế và định hướng trong công tác quản lý bảo tồn biển tại Việt Nam

PDF.InEmail

I. Một số kết quả đạt được của Hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam

1. Hệ thống hệ thống khu bảo tồn biển đang được hình thành

- Đến nay, 12 khu bảo tồn biển đã được thành lập và đưa vào hoạt động: Khu vịnh Nha Trang/Khánh Hòa (2001); Khu BTB Cù Lao Chàm/Quảng Nam (2004); Khu BTB Phú Quốc/Kiên Giang (2007); Khu BTB Cồn Cỏ/Quảng Trị (2009); Khu BTB Hòn Cau/Bình Thuận (2010); Khu BTB Bạch Long Vĩ/Hải Phòng (2014); Khu BTB Lý Sơn/Quảng Ngãi (2015)

- Có 04 khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết đang hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập: Khu bảo tồn biển Hòn Mê; Khu bảo tồn biển Nam Yết; Khu bảo tồn biển Phú Quý; Khu bảo tồn biển Hải Vân - Sơn Chà.

quanlybtb20072017-01

Hình 1: Sơ đồ Hệ thống bảo tồn biển Việt Nam

2. Một số văn bản quản lý liên quan đến công tác bảo tồn biển được xây dựng và ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động bảo tồn biển

3. Nhận thức về bảo tồn biển của cán bộ quản lý các cấp và người dân sống trong và xung quanh các khu bảo tồn biển được nâng cao

4. Năng lực quản lý hoạt động bảo tồn biển được cải thiện

5. Hình thành một số mô hình sinh kế mới có hiệu quả cho cộng đồng dân cư trong các khu khu bảo tồn biển (Mô hình cải hoán tàu cá khai thác ven bờ thành tàu chở khách du lịch, mô hình nhà ở homestay phục vụ khách du lịch tại KBTB Cù Lao Chàm; mô hình hỗ trợ cho vay tài chính để phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cho hội phụ nữ KBTB Hòn Mun…)

6. Môi trường, cảnh quan trong các khu bảo tồn biển được cải thiện

7. Các hệ sinh thái biển được bảo vệ, ngăn ngừa suy giảm

8. Nguồn lợi hải sản trong các khu khu bảo tồn biển dần được khôi phục

9. Thiết lập được mối quan hệ với các tổ chức trong nước và quốc tế

II. Một số hạn chế, tồn tại.

1. Công tác quy hoạch, thành lập khu bảo tồn biển ở Việt Nam được triển khai muộn, thực hiện chậm;

2. Thiếu khung pháp lý quản lý hệ thống khu bảo tồn biển;

3. Áp lực giữa bảo tồn và phát triển kinh tế ngày càng gia tăng;

quanlybtb20072017-02

Hình 2: Xây dựng các công trình phục vụ du lịch trong vùng lõi Khu BTB Cù Lao Chàm

4. Nguồn kinh phí cấp cho công tác bảo tồn biển hạn chế;

5. Cộng đồng cư dân trong và xung quanh các khu bảo tồn biển nghèo, dân trí thấp, sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển;

6. Nhận thức chung của toàn xã hội đối với công tác bảo tồn biển còn thấp;

7. Thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về công tác quản lý bảo tồn biển.

 

quanlybtb20072017-03

Hình 3: Bản đồ phân vùng Vườn Quốc gia Bái Tử Long

 

quanlybtb20072017-04

Hình 4: Bản đồ phân vùng Khu bảo tồn biển Phú Quốc

III. Định hướng trong thời gian đến

1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật

- Trong năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục nghiên cứu, tham mưu Chính phủ các nội dung liên quan đến công tác bảo tồn biển để đưa vào nội dung sửa đổi Luật Thủy sản.

- Song song với quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng tiến hành nghiên cứu tham mưu nội dung sửa đổi Nghị định số 57/2008/NĐ-CP và các văn bản khác nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản luật liên quan đến công tác bảo tồn biển nói riêng và bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản nói chung.

- Xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật cho đầu tư xây dựng một khu bảo tồn biển cấp quốc gia và một khu bảo tồn biển cấp tỉnh; Thông tư hướng dẫn về tiêu chí lựa chọn thành lập và quản lý các phân khu chức năng trong khu bảo tồn biển.

- Nghiên cứu, xây dựng chính sách khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn biển; hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng ngư dân, đặc biệt là ngư dân sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên từ các khu bảo tồn biển.

- Nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn việc liên danh, liên kết, hợp tác công - tư trong lĩnh vực bảo tồn biển; từng bước xã hội hóa công tác quản lý bảo tồn biển nhằm giảm áp lực lên ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia sâu hơn vào các hoạt động bảo tồn biển. Tuy nhiên, việc tham gia liên danh, liên kết phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật về quản lý bảo tồn biển; những hoạt động liên danh, liên kết chỉ được phép thực hiện ở khu vực nào, không được phép thực hiện ở khu vực nào sẽ được làm rõ trong các văn bản quản lý để tạo cơ sở cho các địa phương triển khai các nội dung liên quan.

- Nghiên cứu lượng giá giá trị kinh tế của các hệ sinh thái biển làm cơ sở cho việc thu phí thăm quan tại các khu bảo tồn biển.

2. Quy hoạch và rà soát quy hoạch

- Triển khai quy hoạch chi tiết 02 khu bảo tồn biển Cô Tô và Đảo Trần (Đây là 02 khu bảo tồn biển thuộc danh mục các khu bảo tồn biển được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 742/QĐ-TTg chưa được quy hoạch chi tiết).

- Hoàn thiện hồ sơ đối với các khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập.

- Rà soát lại qui hoạch các khu bảo tồn biển đã đi vào hoạt động, điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp và thống nhất với hệ thống chung.

- Trên cơ sở số liệu điều tra thuộc Đề án 47, hoàn thiện báo cáo đề xuất thêm một số vùng biển có tiềm năng bảo tồn để quy hoạch thành các khu bảo tồn, bổ sung vào hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm tăng diện tích các vùng biển có tiềm năng bảo tồn vào quản lý.

3. Tăng cường công tác truyền thông về bảo tồn biển

- Phối hợp với các Tổ chức IUCN, WWF... tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về công tác bảo tồn biển cho cán bộ từ Trung ương đến địa phương.

- Triển khai các đợt truyền thông sâu rộng đến cộng đồng để giúp người dân địa phương hiểu và ủng hộ công tác bảo tồn biển.

- Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự truyền thông, phổ biến các quy định pháp luật liên quan đến công tác quản lý khu bảo tồn biển để tuyên truyền đến cộng đồng.

4. Mở rộng hợp tác quốc tế về lĩnh vực bảo tồn biển

- Mở rộng và tăng cường hợp tác với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác bảo tồn biển để tìm kiếm sự giúp đỡ về kỹ thuật và các nguồn tài chính cho công tác bảo tồn biển tại Việt Nam.

- Tổ chức các đoàn thăm quan học tập kinh nghiệm tại các nước trong khu vực và trên thế giới để tăng cường hiểu biết và quan hệ hỗ trợ trong công tác bảo tồn biển.

5. Thực hiện tốt đồng quản lý trong công tác quản lý khu bảo tồn biển

- Xây dựng các mô hình đồng quản lý nhằm chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi giữa các bên liên quan trong công tác quản lý bảo tồn biển. Từng bước cải thiện sinh kế cho cộng đồng,cải thiện môi trường bên trong các khu BTB.

6. Thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính bền vững cho hoạt động của các khu BTB

7. Tăng cường công tác tra các hoạt động quản lý khu bảo tồn biển tại địa phương.

 Kim Phương – BQL KBTBCLC

(Nguồn tài liệu tổng hợp: Hội thảo Hiệu quả quản lý Mạng lưới các Khu bảo tồn biển Việt Nam)

.