Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: Một nghiên cứu điển hình về san hô

PDF.InEmail

Sau khi được Viện Hải dương học Nha Trang tập huấn chuyển giao công nghệ phục hồi một số loài san hô cứng, các cán bộ khoa học của Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã chủ động nghiên cứu đề xuất và được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam chấp thuận cho triển khai thực hiện đề tài: “Ứng dụng công nghệ phục hồi một số loài san hô cứng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có sự tham gia của cộng đồng”.

Đề tài nghiên cứu bắt đầu triển khai từ tháng 9/2015 và kết thúc vào tháng 8/2017, với mục tiêu tổng quát phục hồi và nâng cao hiệu quả quản lý hệ sinh thái rạn san hô tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Vận dụng có chọn lọc các kỹ thuật tách, di chuyển và cố định các tập đoàn san hô được tuyển chọn từ tự nhiên của một số quốc gia trên thế giới đã thực hiện thành công, nhóm nghiên cứu khoa học của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã thực hiện công tác điều tra, giám sát đa dạng sinh học biển tại 10 khu vực nằm trong diện tích của Khu bảo tồn biển (với phương pháp Reefcheck và Manta Tow), qua đó đã đánh giá tổng thể hiện trạng phân bố và sức khỏe của các rạn san hô trong khu bảo tồn để quyết định chọn các khu vực trồng phục hồi san hô cũng như thiết lập các vườn ươm san hô cố định dưới đáy biển. Kết quả đã chọn lựa 02 khu vực Bãi Bắc, Bãi Tra (mỗi khu vực có diện tích 2000 m2) là hai khu vực trồng phục hồi san hô và chọn được 02 địa điểm thiết lập vườn ươm san hô cố định dưới đáy biển tại Bãi Bò và Bãi Nần. Các khu vực được quy hoạch chọn cho công việc trồng phục hồi san hô và thiết lập vườn ươm san hô cũng như việc chọn các loài san hô cứng đảm bảo thỏa mãn các điều kiện vô sinh, hữu sinh và xã hội cần thiết tại vùng nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật tách được 2.783 tập đoàn san hô cứng để phục vụ cho việc trồng phục hồi và thiết lập vườn ươm như đã quy hoạch. Đã tuyển chọn 11 loài san hô thuộc 4 giống: Giống Acropora (có 5 loài: A. accuminata; A. cytherea; A. hyacinthus; A.nobilis; A. robusta); giống Echinopora (có 2 loài: E. gemmacea; E. lamellose); giống Montipora (có 2 loài: M. vietnamensis; M. crassituberculata); và giống Pachyseric (có 2 loài: P. rugosa; P. speciosa)

Gần 2 năm triển khai thực hiện đề tài đã ghi nhận các kết quả sau:

- Tỷ lệ sống của các tập đoàn san hô được tách và trồng phục hồi bình quân là 79,85%; trong đó tỉ lệ sống cao nhất là khu vực Bãi Bò (99,15%), kế đến là Bãi Nần (95,09%), Bãi Tra (72,23%) và Bãi Bắc (52,94%)

- Tỷ lệ sống bình quân của các giống san hô cứng đã nghiên cứu thực nghiệm trên 4 địa điểm (Bãi Bắc, Bãi Tra, Bãi Nần, Bãi Bò) với giống Montipora (80,8%), Acopora (83,46%), Pachyseric (80,95%) và Echinopora (50,9%)

- Tốc độ tăng trưởng trung bình của san hô ở các khu vực nghiên cứu: khu vực Bãi Bắc: 2,36cm/năm, Bãi Nần: 5,99cm/năm, Bãi Tra: 0,38cm/năm và Bãi Bò: 3,6cm/năm.

Bên cạnh các kết quả đáng trân trọng nói trên, nhóm nghiên cứu còn ghi nhận được khả năng thích nghi môi trường của một số giống san hô trong khu vực nghiên cứu. Cụ thể, để trồng phục hồi san hô nên chọn các giống san hô: Acropora, Montipora và Pachyseric; các loài san hô thuộc giống Acropora có khả năng chịu đựng sự ngọt hóa tức thời cao hơn các loài san hô thuộc dạng phiến (Montipora, Echinopora, Pachyseric) và các giống san hô thuộc dạng phiến có khả năng thích ứng với trầm tích cao hơn các giống san hô thuộc dạng cành (Acropora).

A- Chăm sóc san hô sau khi được trồng09102017-01

A- Chăm sóc san hô sau khi trồng09102017-02

A- Chăm sóc vườn ươm san hô09102017-03

Thành công của nghiên cứu trên là cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng giúp đội ngũ cán bộ khoa học của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm xây dựng kế hoạch và quy trình mô hình phục hồi một số loài san hô cứng tại các rạn san hô bị tác động bởi các yếu tố tự nhiên trong điều kiện biến đổi khí hậu cũng như những tác động do con người gây ra trong khu bảo tồn biển trong thời gian tới, cũng là cơ sở để Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm phối hợp, hướng dẫn cho các doanh nghiệp và cộng đồng tham gia xây dựng các mô hình rạn san hô nhân tạo để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch sinh thái biển trên cơ sở bảo tồn và tôn tạo, phát triển các rạn san hô tại địa phương.

Có thể nói đây là một nghiên cứu thực nghiệm điển hình về bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học biển nói chung và các loài san hô nói riêng, là kinh nghiệm thực tế để chia sẻ với các khu bảo tồn biển khác trong cả nước, góp phần và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên, môi trường biển của nước ta./.

ThS. Lê Xuân Ái - KS. Lê Vĩnh Thuận - BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

.