Định hướng phân vùng trong các khu bảo tồn biển trên Thế giới – Nhìn lại thực tại Cù Lao Chàm

PDFPrintE-mail

There are no translations available.

Khu Bảo tồn biển (KBTB) là một trong những công cụ quản lý tài nguyên rất cần thiết để làm chậm lại và cuối cùng đảo ngược quá trình suy thoái hệ sinh thái ven biển nhằm phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái, nguồn lợi tự nhiên ở biển. Vì thế, điều quan trọng là thực hiện phân vùng như thế nào, dưới những điều kiện nào để các KBTB đạt hiệu quả nhất. Về cơ bản, một KBTB thường được quy hoạch theo những phân vùng chức năng như sau:

- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt (VBVNN) – No-take zone: nghiêm cấm hoàn toàn hoạt động khai thác.

- Vùng bảo vệ một phần (partially protected MPAs): nghiêm cấm theo mùa, theo vùng hoặc có thể xen kẻ các hoạt động khai thác hợp lý, du lịch.

Trên thế giới, các nhà khoa học đã nhận ra giá trị của KBTB, đặc biệt là các VBVNN trong việc cải thiện sức khỏe hệ sinh thái, bao gồm sự tồn tại và phát triển của ngành thủy sản và hơn nữa là giúp hỗ trợ các nguồn sinh kế thay thế bằng cách thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên ven biển như du lịch sinh thái [1]. Việc quy hoạch KBTB dựa trên khoa học đang được tiến hành tại rất nhiều quốc gia với những kết quả khả quan, có lợi cho các cộng đồng dân cư và hệ sinh thái liên quan. Tính đến tháng 3/2017, 6,5% diện tích đại dương là các KBTB và chỉ có 1,6% trong số đó là các VBVNN [3]. Mặc dù diện tích các KBTB được gia tăng hàng năm nhưng vẫn còn thấp so với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc đặt ra vào năm 2020 là 10% diện tích của đại dương là các KBTB.

A-Phanvung20102017-01

Hình 1. Bản đồ các KBTB trên thế giới (Nguồn: http://www.protectplanetocean.org/official_mpa_map)

Theo như mục đích ban đầu thì các KBTB được thành lập nhằm bảo vệ và phục hồi đa dạng sinh học trong ranh giới của chúng. Tuy nhiên, thực tế trong quá trình hoạt động, các KBTB không những mang lại những lợi ích về sinh thái và kinh tế trong ranh giới của chúng mà còn ở ngoài ranh giới mà chúng được thành lập. Theo phân tích từ các nghiên cứu khoa học cho thấy rằng sinh khối của toàn bộ tập hợp cá trong VBVNN đạt trung bình 670%, cao hơn so với các khu không được bảo vệ liền kề; và cao hơn 343% so với các KBTB chỉ được bảo vệ một phần (Hình 2). Sinh khối cá trong các khu bảo vệ một phần chỉ cao hơn 183% so với các khu không được bảo vệ và nó cũng không khác nhiều so với khu không được bảo vệ [4]. Ngoài ra, sau một thời gian bảo vệ sinh khối cá được phục hồi trở lại tại các VBVNN nhưng không phục hồi được tại các khu bảo vệ một phần hoặc không được bảo vệ (Hình 3).

A-Phanvung20102017-02

Hình 2. So sánh lợi ích sinh thái giữa khu bảo vệ nghiêm ngặt (MR), khu bảo vệ một phần (PP) và khu vực không được bảo vệ (OA)

A-Phanvung20102017-03

Hình 3. Sự phục hồi sinh khối cá qua thời gian giữa 2 khu vực. Khu bảo vệ nghiêm ngặt: màu đen. Khu bảo vệ một phần: màu xám.

Vào cuối những năm 1990, một số ngư dân và các nhà khoa học thủy sản hầu như ở Mỹ bắt đầu chỉ trích các KBTB, họ lập luận rằng các KBTB có thể gây bất lợi cho nghề cá và cố gắng đặt gánh nặng lên vai các nhà bảo tồn [5]. Vì thế một loạt các nghiên cứu tiếp theo tập trung vào việc liệu các KBTB có tạo nên hiệu ứng “tràn” giúp tăng sản lượng cá ở khu vực xung quanh đó? Mặc dù ban đầu các KBTB được hình thành không phải để giúp tăng sản lượng cá nhiều hơn ở bên ngoài ranh giới của chúng. Tuy nhiên các KBTB hoạt động có hiệu quả có thể làm tăng nghề cá, đảm bảo tính bền vững và tăng lợi nhuận lâu dài của nghề cá địa phương [6], [7], [8].

Một số nghiên cứu đã điều tra sự đánh đổi giữa bảo vệ và chuyển đổi nghề đánh bắt tới các vùng lân cận và kết quả cho thấy rằng các khu vực này có nguy cơ cạn kiệt nhanh hơn [9], [10] và ngư dân bị di dời bị thiệt hại kinh tế. Tính đến tháng 3/2017, chỉ 1,6% đại dương là các vùng nghiêm cấm hoàn toàn hoạt động khai thác thủy sản, vì vậy việc di dân và các vấn đề về mất mát kinh tế hiện nay không đáng kể ở quy mô toàn cầu. Tuy nhiên ở nhiều nơi KBTB tạo ra các cơ hội kinh doanh khác, chủ yếu là thông qua du lịch sinh thái giúp ngư dân có thể bù đắp những tổn thất về khai thác và tăng thu nhập của họ [8], [11].

Mặc dù các KBTB không có khả năng chống lại biến đổi khí hậu nhưng có thể cung cấp khả năng phục hồi nhờ sự dự trữ nguồn tài nguyên và tính đa dạng của hệ sinh thái. Ở Baja California, Mexico, một sự kiện tử vong hàng loạt quần thể bào ngư hồng do bị giảm oxy trong nước nhưng chúng được phục hồi nhanh hơn tại các VBVNN vì kích cỡ lớn và sản lượng trứng cao [12].

Được chính thức thành lập từ ngày 25/12/2005 theo Quyết định số 888/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Nam, tính đến nay KBTB Cù Lao Chàm đã đi vào hoạt động được hơn 12 năm. KBTB Cù Lao Chàm được chia thành 4 phân vùng gồm: VBVNN, vùng phát triển du lịch, vùng phục hồi sinh thái và vùng khai thác hợp lý; trong đó VBVNN chỉ chiếm khoảng 1% so với tổng diện tích của KBTB.

A-Phanvung20102017-04

Hình 4. Bản đồ phân vùng KBTB Cù Lao Chàm

Việc phân vùng trong KBTB trước đây là kết quả của việc đàm phán với những ngư dân địa phương. Trên thực tế, kinh nghiệm quốc tế cho thấy tỷ lệ diện tích VBVNN, nghiêm cấm mọi hình thức khai thác sử dụng thường chiếm khoảng 10% diện tích KBTB, vì thế trường hợp của Cù Lao Chàm có thể coi là trường hợp điển hình. Tác động của VBVNN này là một tỷ lệ nhỏ hơn các loài sinh vật biển sẽ được hưởng lợi từ việc bảo tồn và sẽ mất nhiều thời gian hơn để phục hồi lại trữ lượng các sinh vật biển. Vì thế đây là sự thỏa hiệp giữa những lợi ích kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn [2]. Qua thời gian 12 năm, sự chuyển biến về kinh tế Cù Lao Chàm đã thay đổi rất nhiều, điều này dẫn đến việc phân vùng cũ đã không còn tương thích với thực trạng hiện tại. Vì vậy, việc điều chỉnh lại phân vùng tại KBTB Cù Lao Chàm đang là vấn đề rất cần thiết để tái thiết lại VBVNN dựa trên những thực trạng về tài nguyên và kinh tế hiện nay tại Cù Lao Chàm và theo xu hướng mà thế giới đang thực hiện.

A-Phanvung20102017-05

 Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB CLC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] NCEAS 2001. Scientific consensus statement on marine reserves and marine protected areas. National Center for Ecological Analysis and Synthesis. https://www.nceas.ucsb.edu/consensus/consensus. pdf.

[2] Evan Fox, Bùi Thị Thu Hiền và Jake Brunner, 2011, Các khu bảo tồn biển và công tác bảo tồn rùa biển tại Việt Nam: Thách thức và cơ hội.

[3] Lubchenco, J., and Grorud-Colvert, K. 2015. Making waves: the science and politics of ocean protection. Science, 350: 382–383.

[4] Aburto-Oropeza, O., Erisman, B., Galland, G. R., Mascarenas-Osorio, I., Sala, E., Ezcurra, E. 2011. Large recovery of fish biomass in a no-take marine reserve. PLoS ONE, 6: e23601

[5] Hilborn, R., Stokes, K., Maguire, J.-J., Smith, T., Botsford, L. W., Mangel, M., Orensanz, J., et al. 2004. When can marine reserves improve fisheries management?. Ocean & Coastal Management, 47: 197–205.

[6] Halpern, B. S., Lester, S. E., and Kellner, J. B. 2009. Spillover from marine reserves and the replenishment of fished stocks. Environmental Conservation, 36: 268–276.

[7] Goni, R., Badalamenti, F., and Tupper, M. 2011. Effects of marine ~ protected areas on local fisheries: evidence from empirical studies. In Marine Protected Areas: A Multidisciplinary Approach, pp. 72–98. Ed. by J. Claudet. Cambridge University Press, Cambridge.

[8] Sala, E., Costello, C., Dougherty, D., Heal, G., Kelleher, K., Murray, J. H., Rosenberg, A. A., et al. 2013. A general business model for marine reserves. PLoS ONE, 8: e58799.

[9] Dinmore, T., Duplisea, D., Rackham, B., Maxwell, D., and Jennings, S. 2003. Impact of a large-scale area closure on patterns of fishing disturbance and the consequences for benthic communities. ICES Journal of Marine Science: Journal Du Conseil, 60: 371–380.

[10] Hiddink, J., Hutton, T., Jennings, S., and Kaiser, M. 2006. Predicting the effects of area closures and fishing effort restrictions on the production, biomass, and species richness of benthic invertebrate communities. ICES Journal of Marine Science: Journal Du Conseil, 63: 822–830.

[11] Sala, E., Costello, C., Parme, J. D. B., Fiorese, M., Heal, G., Kelleher, K., Moffitt, R., et al. 2016. Fish banks: an economic model to scale marine conservation. Marine Policy, 73: 154–161.

[12] Micheli, F., Saenz-Arroyo, A., Greenley, A., Vazquez, L., Espinoza Montes, J. A., Rossetto, M., and De Leo, G. A. 2012. Evidence that marine reserves enhance resilience to climatic impacts. PLoS ONE, 7: e40832.

.