Kết quả giám sát hệ sinh thái rạn san hộ tại Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

PDFPrintE-mail

There are no translations available.

1. Mở đầu

Từ năm 2011 đến nay, theo định kỳ mỗi năm một lần, Ban quản lý (BQL) Khu bảo tồn biển (KBTB) Cù Lao Chàm thực hiện chương trình giám sát hệ sinh thái rạn san hô (RSH) nhằm tạo dựng và duy trì bộ cơ sở dữ liệu về tình trạng hệ sinh thái RSH một cách khoa học và phù hợp nhất, phục vụ hữu ích cho công tác đánh giá hiệu quả quản lý, và từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý phù hợp với tình hình hiện nay và trong thời gian tới cho KBTB Cù Lao Chàm.

2. Địa điểm, thời gian

Chương trình giám sát được thực hiện dựa trên cơ sở kế thừa mạng lưới giám sát từ những năm trước do Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện. Thời gian giám sát được cố định hàng năm nhằm hạn chế sai số, thường việc giám sát được triển khai vào khoảng từ ngày 09 – 15/5 hàng năm.

A-giamsatsanho-04062018-01

Hình 1. Bản đồ điểm giám sát hệ sinh thái RSH trong KBTB Cù Lao Chàm

3. Phương pháp giám sát

Sử dụng phương pháp kiểm tra rạn Reefcheck (English, 1997). Tại mỗi điểm giám sát, rải 2 dây mặt cắt (mỗi dây có độ dài 100m) tại 2 mặt cắt cạn và sâu, điểm đầu và điểm cuối của dây mặt cắt ở các vị trí giám sát đã được cố định từ những năm trước để tránh tình trạng sai số trong quá trình rải dây. Sau khi dây mặt cắt được rải, người tham gia giám sát bơi dọc theo dây, đếm sinh vật (cá, động vật đáy) và xác định hợp phần đáy ở 4 đoạn trên 1 dây mặt cắt, mỗi đoạn dài 20m (các đoạn cách nhau 5m) và giới hạn chiều rộng mỗi bên là 2,5m. (Hình 2).

Trình tự thực hiện giám sát của các nhóm theo thứ tự như sau: nhóm cá, nhóm động vật đáy và cuối cùng là nhóm xác định hợp phần đáy.

A-giamsatsanho-04062018-02

Hình 2. Dây mặt cắt nghiên cứu cá, động vật không xương sống và các hợp phần đáy (theo Hodgson & Waddell, 1997)

A-giamsatsanho-04062018-03

Hình 3. Sơ đồ đường bơi dọc theo mặt cắt khi khảo sát động vật thân mềm cỡ lớn

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Độ phủ san hô

Kết quả cho thấy từ năm 2013 – 2016, độ phủ RSH tại các vùng không bảo vệ nghiêm ngặt (KBVNN) đều cao hơn các vùng bảo vệ nghiêm ngặt (BVNN) từ 2 – 4%. Điều này cho thấy áp lực khai thác tại các vùng rạn thuộc vùng BVNN là rất cao và hiệu quả quản lý chưa được tốt. Độ phủ san hô sống chênh lệch không nhiều giữa các năm 2013 – 2016 và tăng vọt vào năm 2017 (tăng khoảng 10%). Sự gia tăng này có thể là một tín hiệu đáng mừng trong công tác bảo vệ RSH. Tuy nhiên việc tăng độ phủ san hô 10%/năm là một điều khó xảy ra vì san hô thuộc loài sinh trưởng chậm. Do đó, sự gia tăng này có thể là sai số trong quá trình rải dây mặt cắt để giám sát, làm cho đa số các điểm chạm rơi vào vị trí của san hô hoặc do người giám sát đánh giá nhầm giữa san hô với các chỉ tiêu khác. Đây là vấn đề cần lưu ý và khắc phục hơn trong những lần giám sát ở các năm sau.

A-giamsatsanho-04062018-04

Hình 4. Độ phủ san hô giữa vùng BVNN và KBVNN tại Cù Lao Chàm

Dựa vào kết quả giám sát RSH năm 2017, tại 11 điểm giám sát, độ phủ san hô sống tương đối cao (>48%), chỉ có khu vực Bãi Bìm và Đá Bàn có độ phủ thấp hơn (32.5% và 34%). Độ phủ trung bình toàn vùng Cù Lao Chàm là 59.26%. So sánh bảng xếp hạng sức khỏe rạn san hô do Chou và cs (1996) nghiên cứu đề xuất cho thấy tình trạng sức khỏe RSH ở Cù Lao Chàm đang ở mức độ tốt. Hòn Dài, hòn Mồ, hòn Tai là những khu vực có độ phủ san hô sống cao nhất (>75%) tại Cù Lao Chàm.

A-giamsatsanho-04062018-05

Hình 5. Độ phủ san hô các vùng ở Cù Lao Chàm năm 2017

4.2. Mật độ cá rạn san hô

Các loài cá rạn san hô được lựa chọn là nhóm chỉ thị cho tình trạng sức khỏe RSH, đồng thời cũng phản ánh được tình trạng quản lý và khai thác thủy sản tại khu vực. Cá rạn san hô được chia thành 2 nhóm: nhóm cá có giá trị kinh tế gồm: cá mú, cá hồng, cá chình, cá bàng chài và nhóm cá chỉ thị gồm: cá thia, cá bướm, cá thiên thần, cá mó, cá dìa.

Nhìn chung, độ phong phú về loài thuộc nhóm cá chỉ thị ở các điểm khảo sát là tương đương nhau, chỉ riêng khu vực Bãi Hương và Bãi Xếp nghèo thành phần loài hơn các khu vực còn lại (chỉ phát hiện cá bướm và cá mó). Mật độ cá chỉ thị tại các khu vực: bãi Bắc, bãi Bìm, hòn Khô, hòn Lá, hòn Mồ, hòn Tai cao hơn gấp 2-4 lần so với các khu vực còn lại. Trong nhóm cá này, cá bướm và cá mó xuất hiện phổ biển nhất ở tất cả các điểm giám sát so với các nhóm còn lại. Đây là dấu hiệu tốt cho thấy áp lực khai thác cá bướm để làm cảnh hầu như không còn. Mặc khác, ở những khu vực có mật độ cá bướm cao như hòn Tai, bãi Bắc, hòn Lá phản ánh hiện trạng sức khỏe của RSH tại những khu vực này khá tốt bởi vì nhóm cá này chủ yếu sử dụng thức ăn là các polyp san hô.

A-giamsatsanho-04062018-06

Hình 6. Mật độ nhóm cá chỉ thị tại Cù Lao Chàm năm 2017

Xét về yếu tố chất lượng nước tại các khu vực vào cùng thời điểm khảo sát cho thấy các thông số vật lý môi trường nước biển không có sự chênh lệch nhiều giữa các khu vực. Do đó, sự khác nhau về mật độ và độ phong phú loài thuộc nhóm cá chỉ thị có thể phụ thuộc vào cấu trúc rạn san hô và các yếu tố khác của môi trường nước. So sánh mật độ cá và độ phủ RSH cho thấy tại những nơi có độ phủ san hô sống cao và độ phủ san hô cứng nhiều hơn san hô mềm như hòn Tai, hòn Mồ, hòn Lá, bãi Bắc thì mật độ các loài cá chỉ thị cũng cao và phong phú hơn so với các nơi còn lại.

A-giamsatsanho-04062018-07

Hình 7. Thông số chất lượng nước tại các điểm giám sát tháng 5/2017

So sánh mật độ trung bình nhóm cá chỉ thị qua các năm cho thấy, nhóm cá bướm và cá dìa có sự thay đổi không đáng kể; nhóm cá mó tăng xấp xỉ 1,5 lần so với các năm trước; nhóm cá thia và cá thiên thần giảm hơn một nửa so với năm 2016. Tuy có sự tăng giảm mật độ các nhóm loài nhưng nhìn chung mật độ trung bình loài cao nhất toàn vùng Cù Lao Chàm chỉ khoảng gần 1,1 cá thể/500m3. Điều này cho thấy nhóm cá chỉ thị RSH tại Cù Lao Chàm rất ít và chưa thấy có xu hướng tăng từ năm 2013 đến nay.

A-giamsatsanho-04062018-08

Hình 8. Mật độ nhóm cá chỉ thị tại CLC qua các năm

Kết quả giám sát năm 2017 cho thấy, các loài cá chình, cá bàng chài có tỉ lệ bắt gặp rất hiếm, trong cả đợt giám sát chỉ bắt gặp duy nhất 1 cá thể (cá chình tại hòn Dài và cá bàng chài tại bãi Hương) với mật độ 0,13 cá thể/500m3. Trong nhóm này, các loài cá mú có mật độ trung bình cao nhất, đặc biệt tại khu vực hòn Tai và hòn Lá. Tuy nhiên, số lượng cá mú trưởng thành có kích thước >30cm rất ít, chiếm 5/113 (4,4%) tổng số lượng cá mú bắt gặp được và có mật độ trung bình toàn vùng khoảng 0.063 cá thể/500m3.

A-giamsatsanho-04062018-09

Hình 9. Mật độ nhóm cá kinh tế tại CLC năm 2017

So sánh mật độ trung bình nhóm cá kinh tế qua các năm cho thấy mật độ các loài cá thuộc nhóm này trong năm 2017 giảm một nửa so với năm 2016 (trừ nhóm cá mú có xu hướng tăng). Có thể thấy rằng, áp lực khai thác đang ngày một gia tăng tại Cù Lao Chàm.

A-giamsatsanho-04062018-10

Hình 10. Mật độ nhóm cá kinh tế tại CLC qua các năm

4.3. Mật độ động vật đáy và các tác động đến RSH

Kết quả giám sát tại 11 điểm cho thấy không bắt gặp ốc tù và và tôm bác sĩ. Nhóm động vật đáy như tôm hùm, bàn mai, trai tai tượng, ốc đụn có mật độ rất thấp, trung bình khoảng 0.3 cá thể/100m2. Riêng hải sâm có mật độ trung bình rất cao, toàn vùng khoảng 9.2 cá thể/100m2; đặc biệt tại khu vực hòn Khô, mật độ hải sâm lên đến 55,6 cá thể/100m2. Hòn Khô thuộc vùng BVNN và xa khu vực khai thác của ngư dân nên hải sâm ở đây còn khá nhiều. Tại bãi Bìm, bãi Xếp và Đá bàn là những khu vực có sự nghèo nàn nhất về các loài động vật đáy, trong quá trình giám sát chỉ phát hiện ốc đụn và hải sâm tại 3 khu vực này.

A-giamsatsanho-04062018-11

Hình 11. Mật độ động vật đáy tại CLC 2017

So với các năm trước, mật độ động vật đáy năm 2017 có sự gia tăng đáng kể, đặc biệt là hải sâm và ốc đụn. Hai đối tượng tài nguyên mục tiêu là Tôm hùm và Trai tai tượng cũng đang có dấu hiệu gia tăng từ năm 2016 đến nay. Điều này cho thấy, việc áp dụng các quy định khai thác tài nguyên trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm là một trong những công cụ hữu hiệu nhằm quản lý tài nguyên một cách hiệu quả hơn.

A-giamsatsanho-04062018-12

Hình 12. Mật độ động vật đáy tại CLC qua các năm

Cầu gai là một trong những loài động vật có khả năng làm sạch môi trường biển và kiểm soát sự phát triển của rong. Qua khảo sát, mật độ cầu gai từ năm 2011 đến năm 2017 giảm từ 32 cá thể/100m2 xuống còn 11 cá thể/100m2. Từ năm 2013 đến nay khách du lịch có nhu cầu thưởng thức các thực phẩm từ cầu gai, do đó sản lượng khai thác loài này tăng cao, vì vậy mật độ cầu gai giảm dần qua các năm. Tuy nhiên, mật độ này vẫn còn ở mức chấp nhận được, như vậy điều đáng chú ý không phải là sự suy giảm mật độ cầu gai trong rạn mà chính là sự ảnh hưởng từ việc khai thác cầu gai trong vùng rạn đặc biệt là vùng bảo vệ nghiêm ngặt.

A-giamsatsanho-04062018-13

Hình 13. Mật độ cầu gai tại CLC qua các năm

Các loài địch hại của san hô như sao biển gai, ốc gai ăn san hô có xu hướng giảm dần từ năm 2011 đến nay. Riêng loài ốc gai ăn san hô hầu như không tìm thấy từ năm 2012 đến nay. Điều này cho thấy nỗ lực thu diệt sao biển gai hàng năm của KBTB Cù Lao Chàm đã cho kết quả đáng mừng, giảm thiểu một phần tác động đến hệ sinh thái RSH.

A-giamsatsanho-04062018-14

Hình 14. Mật độ các loài địch hại của san hô tại CLC 

5. Kết luận và đề xuất

Năm 2017, độ phủ trung bình san hô sống (san hô cứng và san hô mềm) toàn vùng Cù Lao Chàm là 59.26%; cao nhất tại các khu vực hòn Dài, hòn Mồ, hòn Tai (>75%) và thấp nhất tại khu vực bãi Bìm, Đá bàn (<35%).

Mật độ nhóm cá chỉ thị trung bình toàn vùng Cù Lao Chàm năm 2017 khoảng 0.53 cá thể/500m3, cao nhất là nhóm cá mó với mật độ trung bình 1.1 cá thể/500m3 và thấp nhất là nhóm cá thiên thần với mật độ trung bình 0.05 cá thể/500m3. Tại các khu vực bãi Bắc, Bãi bìm, hòn Khô, hòn Lá, hòn Mồ, hòn Tai có mật độ và độ phong phú về loài của nhóm cá chỉ thị cao hơn những khu vực còn lại từ 2-4 lần.

Mật độ trung bình nhóm cá kinh tế năm 2017 nhìn chung đều giảm so với các năm trước (trừ nhóm cá mú có xu hướng tăng) với mật độ trung bình của nhóm này trên toàn vùng Cù Lao Chàm là 0.3 cá thể/500m3. Nhóm cá Mú được ghi nhận ở tất cả các điểm giám sát, trong đó, hòn Tai và hòn Lá có mật độ cá mú cao nhất (3.13 và 2.38 cá thể/500m3). Trong các đợt giám sát từ năm 2014 - 2017, hầu như không phát hiện thấy cá chình.

Nhóm động vật đáy có xu hướng tăng dần từ 2013 – 2017. Đặc biệt là loài hải sâm có sự gia tăng đột biến về mật độ từ 2.83 cá thể/100m2 trong năm 2016 lên đến 10.25 cá thể/100m2 trong năm 2017, phân bố nhiều nhất ở khu vực hòn Khô. Nhóm các đối tượng mục tiêu (tôm hùm, trai tai tượng) đang có dấu hiệu gia tăng từ năm 2016 đến nay.

Sinh vật địch hại của rạn san hô bắt gặp rất ít trong đợt khảo sát, đây là tín hiệu đáng mừng phản ánh kết quả của hoạt động thu gom sao biển gai và các loài địch hại san hô của BQL với sự tham gia của nhiều cơ quan liên quan và cộng đồng. 

Trong số 11 điểm giám sát, hòn Tai và bãi Bắc là những khu vực có sự đa dạng về thành phần loài, mật độ các loài và độ phủ rạn san hô tương đối cao hơn so với các khu vực còn lại. Vì vậy, BQL cần có những giải pháp hạn chế phát triển du lịch và tăng cường quản lý tại 2 khu vực này để nguồn lợi được phục hồi trong tự nhiên.

Phương pháp giám sát rạn san hô (Reefcheck) không đòi hỏi người lặn có kiến thức khoa học tốt tuy nhiên yêu cầu phải thống nhất về thời gian, vị trí và người giám sát. Tức là mỗi chỉ tiêu chỉ cố định một người giám sát xuyên suốt quá trình. Trong năm 2017 có sự thay đổi về đội ngũ giám sát rạn san hô do đó không tránh khỏi tình trạng sai số trong quá trình giám sát. Vì vậy, BQL cần tiếp tục đào tạo tập huấn nhiều hơn nữa cho đội ngũ giám sát mới để phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý KBTB Cù Lao Chàm. 

Một số hình ảnh hoạt động:

A-giamsatsanho-04062018-15

A-giamsatsanho-04062018-18

A-giamsatsanho-04062018-16

 A-giamsatsanho-04062018-17

 Phương Thảo – BQL KBTB CLC

...