Đồng quản lý, công cụ hỗ trợ hài hòa các mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội tại Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An.

PDF.InEmail

Đặt vấn đề

Đồng quản lý là phương thức hiện tại được tiếp cận trong quản lý tài sản chung như một hệ sinh thái, tài nguyên, môi trường, tuy nhiên thông thường đi liền với các tài sản chung ấy là các cộng đồng người lao động hoặc là sinh kế thường ngày hoặc là các liên quan khác như quản lý, bảo vệ, bảo tồn. Trong hiện trạng ấy, các phân tích được tiếp cận theo hướng tài sản thường gồm 3 nhóm chính là tài sản cá nhân, tài sản nhóm và tài sản công cộng, được gộp chung thành tài sản cộng đồng. Một số mô hình đồng quản lý nặng về quản lý nhà nước tức là trên cơ sở hoàn toàn tài sản công cộng, cái khác thì nặng về tài sản cá nhân thường gặp ở các quản lý doanh nghiệp, còn số khác thì quan tâm đến tài sản nhóm, hợp tác, nhưng chỉ dừng lại phần lợi ích và trách nhiệm chung.Tìm hiểu một mô hình hài hòa các mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội là một nhu cầu cấp thiết hiện nay và trong thời gian đến. Mô hình đồng quản lý lại bước lên một giai đoạn phát triển mới, một hợp tác giữa các thành phần liên quan cần được xây dựng, năng lực cộng đồng cần được cũng cố và tăng cường, kinh tế chất lượng cần được giới thiệu, quản lý hệ thống cần được áp dụng, cần được nhân rộng và tạo điều kiện để các địa phương mới trong vùng, các cơ sở đào tạo, các khu bảo tồn học tâp.

Tổng quan

Câu chuyện được đúc kết từ quá trình xây dựng và phát triển khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, một thời gian dài chuyển tiếp từ hoạt động sử dụng tài nguyên và môi trường tại địa phương; tiếp cận với thực tiễn khai thác và sử dụng vào những 1990 và 2000, nguồn lợi tài nguyên và môi trường bị hạn chế dần do tốc độ khai thác, đi lên kèm với nhu cầu, trong những vùng gần bờ, cửa sông và ao hồ. Sự tổn thương ấy được nhận ra rằng, việc khai thác và sử dụng không hợp lý với chức năng và dịch vụ của hệ sinh thái, vì vậy, một sự điều chính bằng cách áp dụng nguyên tắc quản lý khu bảo tồn biển, có nghĩa là khai thác theo mùa, theo vùng, và theo kích thước. Từ đó đi kèm với kiểm soát các ngư lưới cụ, ô nhiễm môi trường. Một số các hoạt động khai thác phù hợp được nghiên cứu áp dụng đồng thời các hình thức kinh tế mới cũng được tăng cường nghiên cứu ứng dụng, và kinh tế du lịch ra đời. Để tiếp quản với nhận thức cũng như kỹ năng mới, sự tiếp nhận tri thức, công nghệ, khoa học kỹ thuật được tăng cường cho cộng đồng người dân địa phương, nhằm nâng cao năng lực, giúp người lao động trực tiếp có thể tiếp nhận quản lý và phát huy tốt giá trị của các hệ sinh thái. Phương thức đồng quản lý được áp dụng nhằm hài hòa lợi ích và trách nhiệm giữa nhà nước, cộng đồng người dân địa phương và nhà khoa học ra đời, đáp ứng được tiến độ phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở bảo tồn nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Song cùng với bảo tồn tài nguyên và môi trường, nhiều di sản văn hóa cũng như thiên nhiên được công nhận, du lịch phát triển, sinh kế người dân được dần cải thiện, tuy nhiên cũng chính theo thời gian dần trôi, kinh tế phát triển, tư bản được tích lũy, nhiều doanh nghiệp ra đời theo nhu cầu được đầu tư, và quản lý hiệu quả. Sự tiếp nhận doanh nghiệp hay nói cách khác là hướng tới một sự phát triển nhanh, mạnh, nhưng bền vững đôi lúc đôi nơi chưa được tương xứng. Sự tổn thương đến sức khỏe hệ sinh thái, tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng nhiều, đã và đang mang đến nhiều áp lực, thách thức mới cho phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy nghiên cứu tập trung vào các bài học kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về ứng xử giữa con người với thiên nhiên mà cụ thể là giữa bảo tồn và sinh kế của người dân địa phương và phát triển kinh tế xã hội, đúc kết các mô hình đồng quản lý cũng như các kiến nghị phát triển chính sách về đồng quản lý là cần thiết. Nghiên cứu được triển khai theo hướng (1) Tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực địa phương ABCD (asset based community development); phân tích hiện trạng quản lý di sản theo khung dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, đáp ứng DPSIR (drivers, pressures, state, impact, responses); nguyên tắc cụ thể, lượng hóa, khả thi, hợp lý, thời gian SMART (specific, measurable, attainable, reasonable, time), phân tích mặt mạnh, yếu, cơ hội và thách thức SWOT (strengths, weaknesses, opporntunities, threats) được sử dụng; (2) Kế thừa nguồn tài liệu thứ cấp, và làm việc nhóm; (3) Thực địa theo tour với phỏng vấn, quan sát, ghi chép, thảo luận, trình bày theo học cụ giấy A0, bút màu, ghi âm, ghi hình; (4) Tham quan học tập các khu bảo tồn, bảo vệ, phát triển cộng đồng và du lịch quốc gia và quốc tế; và (5) Hội thảo.

Mục tiêu

(1) Đúc kết các bài học về đồng quản lý trong và ngoài nước thông qua tham quan học tập tại các khu bảo tồn, bảo vệ và phát triển cộng đồng.

(2) Cập nhật mô hình điểm về đồng quản lý hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái vùng cửa sông, và quản lý rác thải sinh hoạt theo hướng không rác thải đại đương với trường hợp nghiên cứu Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (DTSQ).

(3) Khuyến nghị phát triển chính sách về đồng quản lý tài nguyên môi trường.

Kết quả đạt được

(1) Đối với tài sản cộng đồng trong đó có tài sản cá nhân, tài sản nhóm, tài sản công cộng, quản lý theo phương thức cộng đồng hay là đồng quản lý luôn luôn là một nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên tùy theo năng lực cộng đồng tiếp nhận theo thời gian mà phương thức đồng quản lý đó chuyển dần từ Nhà nước, tư nhân hoặc theo hướng hợp tác, với cơ chế phân chia lợi ích, trách nhiệm được rõ ràng và hướng đến công bằng.

(2) Hướng cập nhật đồng quản lý cho đối tượng được cộng đồng xác định là trách nhiệm và lợi ích chung cần được tiếp cận theo hướng quản lý tổng hợp / trường hợp nghiên cứu đồng quản lý rác thải sinh hoạt theo hướng không rác thải nhựa đại dương với mô hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.

(3) Hướng cập nhật đồng quản lý theo mô hình hợp tác và nâng cao năng lực cộng đồng nhằm mở rộng phạm vi và liên kết hệ sinh thái / trường hợp nghiên cứu đồng quản lý hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, vùng cửa sông Thu Bồn, Hội An.

(4) Hướng cập nhật đồng quản lý theo mô hình tiểu khu bảo tồn biển, một mô hình đồng quản lý được chủ động chia sẻ từ nhà quản lý trong tuần tra, giám sát chất lượng hệ sinh thái rạn san hô đến sinh kế cộng đồng cần gắn kết nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương / trường hợp nghiên cứu Đồng quản lý hệ sinh thái biển đảo Cù Lao Chàm.

(5) Các khuyến nghị chính sách về quy hoạch phân vùng chức năng sử dụng tài nguyên môi trường, năng lực tham gia của cộng đồng, cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm, quản lý tổng hợp và hoạt động điều phối.

(6) Hiệu quả mang lại theo tiếp cận đồng quản lý về kinh tế, xã hội, môi trường với các ví dụ từ hệ sinh thái biển Cù Lao Chàm, hệ sinh thái rừng ngập mặn và vùng cửa sông Thu Bồn, Hội An và quản lý rác thải sinh thải tại Khu DTSQ.

Bài học kinh nghiệm

1) Đồng quản lý là công cụ hài hòa được các mối quan hệ bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội.

Mô hình tổng hợp đáp ứng được các nhu cầu phát triển của kinh tế xanh trên nền tảng bảo tồn và cải thiện sinh kế tại địa phương được hình thành. Mô hình tổng thể được đúc kết và được mô phỏng theo hình 1&2, trong đó về mặt quản lý Nhà nước hệ sinh thái biển và ven bờ được quản lý bởi luật, nghị định và các thông tư, hướng dẫn và quy chế cấp tỉnh, thành phố, điều này tương ứng với quản lý tài sản công cộng trong một hệ sinh thái. Bên cạnh đó một phần rất quan trọng là sự gắn kết với tư vấn khoa học từ Quốc tế, Việt Nam, tỉnh, thành, địa phương và kiến thức bản địa là sự kết nối với UNESCO, Bộ, Ngành, Cơ quan Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học, Bảo tồn được trực tiếp và gián tiếp đến hiện trường, cộng đồng. Phần động lực cho sự quản lý bảo vệ, bảo tồn và phát triển lâu bền là nội lực cộng đồng được nghiên cứu liên kết và hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm dưới các hình thức tổ chức hợp tác xã, hoặc theo cơ chế hợp tác chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa các bên liên quan theo tổ chức ban quản lý.

a. Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) tại xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam

hinh 1- khxh

Hình 1: Mô hình nghiên cứu tổng thể giao quyền quản lý hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh[3].

b. Mô hình đồng quản lý và phục hồi rạn san hô với sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp tại Khu Bảo tồn Biển Cù Lao Chàm.

hinh 2- khxh

Hình 2: Mô hình nghiên cứu tổng thể đồng quản lý hệ sinh thái rạn san hô tại Bãi Hương[3]

Mô hình mở ra một khái niệm mới giúp cho khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An đón nhận được thách thức mới từ nhu cầu gia tăng du lịch tại địa phương và đề nghị kết nối tuyến du lịch giữa Đà Nẵng và Cù Lao Chàm, Hội An, trên cơ sở tiếp cận hệ thống. Mô hình kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường nâng cao năng lực cộng đồng, trong đó có quản trị và quản lý bảo tồn biển và sinh quyển nhằm tăng cường tính thích ứng của bảo tồn, và cộng đồng địa phương, theo những chuyển biến và thay đổi mới. Khung nhu cầu năng lực của nhân viên ban điều phối bảo tồn và khung xác định vai trò chủ thể của người dân địa phương trong khu bảo tồn và sinh quyển.Mô hình được xây dựng đảm bảo được huy động được nguồn lực địa phương trên cơ sở tài sản cộng đồng, tranh thủ hỗ trợ quốc tế, kết nối được đầu tư bên ngoài một cách hợp lý và hiệu quả.

Quá trình đầu tư xây dựng vùng lõi Khu DTSQ được bắt đầu từ 10/2003 đến 10/2011 với nguồn vốn đầu tư 2,5 triệu đô (tương đương khoảng 50 tỷ đồng) [6] từ chính phủ Đan Mạch và sự hỗ trợ từ các cơ quan liên quan của Việt Nam. Từ năm 2011, hoạt động du lịch đã bắt đầu có sự đóng góp trở lại cho Khu DTSQ thông qua vé tham quan.Trong những năm gần đây, vé tham quan vùng lõi Khu DTSQ đã được chấp thuận ở mức 70.000 đồng/người và vùng đệm 30.000 đồng/người. Số lượng du khách trung bình khoảng 500.000 lượt khách/năm tại vùng lõi và 700.000 lượt khách/năm tại vùng đệm [8], [1] đã thu được một nguồn kinh phí đáng kể cho việc tái đầu tư trở lại các hệ sinh thái của khu vực.

 

hinh 3- khxh

Hình 3: Phân tích chi phí và lợi ích quá trình phát triển vùng lõi Khu DTSQ[6]. 

Nhìn chung, phân tích chi phí và lợi ích từ các khu bảo tồn thế giới cho thấy việc đầu tư ban đầu để đạt được sự đồng thuận cao trong cộng đồng thường kéo dài từ 8 đến 10 năm, đối với vùng lõi Khu DTSQ cũng vậy, thời gian đầu tư được tính từ những ngày đầu cho đến khi được đồng thuận cao và nguồn thu từ du lịch một cách đáng kể được tính tổng cộng đến hơn 11 năm [7]. Việc xây dựng và hoàn thiện các kỹ năng điều phối từ việc tiếp nhận kiến thức đến thành thạo sử dụng và thể hiện được hành động được tính toán tổng từ 8 đến 10 năm, tuy nhiên các khu bảo tồn khác ngày nay, có thể rút ngắn được quãng thời gian này theo tiếp cận kinh nghiệm điều phối Khu DTSQ.

Dự báo thời gian đạt được sự đồng thuận bảo tồn, nếu bắt đầu từ kinh nghiệm Khu DTSQ sẽ được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm [6].Câu hỏi đặt ra là tại sao, nếu học tập kinh nghiệm Khu DTSQ thì thời gian đồng thuận cho bảo tồn được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm. Thực ra trong quá trình xây dựng và phát triển vùng lõi Khu DTSQ, thời gian tìm kiếm, nghiên cứu cho các phương pháp tiếp cận, giáo dục, truyền thông cộng đồng rất dài, chiếm hơn 1/3 đến 1/2 tổng số thời gian đạt được đồng thuận cao tại đây [9]. Vì vậy, học tập Khu DTSQ là học tập các phương pháp tiếp cận, các kỹ năng từ thực tiễn trong công tác cộng đồng.Đồng thời Khu DTSQ đã và đang là hiện trường lớn cho việc đào tạo các nguồn lực này đến các khu bảo tồn mới tại địa phương và khu vực. Một vài khu bảo tồn mới như Khu Bảo tồn Đảo Bé, Lý Sơn, Quảng Ngãi cũng đang trong quá trình tiếp cận theo hướng Khu DTSQ [10].

hinh 4- khxh

 

Hình 4: Phân tích chuỗi thời gian xây dựng năng lực điều phối quản lý [6].

2) Đồng quản lý hỗ trợ nâng cao năng lực cộng đồng - Mô hình du lịch học tập tại Cẩm Thanh và Bãi Hương Cù Lao Chàm

Các liên kết nghiên cứu, đào tạo và hình thành các tour học tập tại Khu DTSQ là những hoạt động thực tiễn rất thiết thực nhằm một mặt hoàn thành được nhiệm vụ với chức năng là đóng góp chia sẻ trách nhiệm giáo dục, mặt khác hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm từ cộng đồng sinh sống trong và chung quanh khu bảo tồn. Một số nơi, Khu DTSQ đã và đang trở thành một đại học không giảng đường cùng liên kết với các cơ sở giáo dục đào tạo trong và ngoài nước phục vụ giáo dục đào tạo thế hệ tương lai về bảo tồn và phát triển.Ngoài ra các Khu DTSQ còn là môi trường học tập sinh động nhằm tạo mẫu cho các địa phương khác tiếp cận và xây dựng phát triển bảo tồn của mình. Các tour tham quan học tập từ cộng đồng Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, từ đại học trong nước và quốc tế được thống kê phân loại theo thời gian nghiên cứu, nội dung học tập, cũng như các ứng dụng.Mô hình được xây dựng tạo tiền đề đóng góp vào giáo dục cộng đồng, nâng cao năng lực của người dân địa phương và kết nối với hệ thống đào tạo, nghiên cứu khoa học chung nhằm nâng cao chất lượng bảo tồn, dịch vụ sinh thái, và sản phẩm dịch vụ, phục vụ cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Du lịch học tập bước đầu đến từ các nhóm sinh viên, tình nguyện viên nghiên cứu, trong và ngoài nước dần đến các lớp học được tổ chức rộng rãi cho cộng đồng người dân tại địa phương và khắp nơi, chỉ tính trong năm qua và 5 tháng đầu năm 2019, có hàng chục đoàn công tác đến du lịch học tập tại Cẩm Thanh, Hội An và các vùng phụ cận với khoảng 1.000 người, thêm vào đó cũng khoảng hơn 1.200 sinh viên từ các trường đại học Việt Nam và Quốc tế và hàng ngàn du khách thường xuyên từ các công ty lữ hành [11], [12]. Năm 2018, tổng thu 786.000.000 đồng, trong đó từ rau: 456.000.000 đồng, còn lại là du lịch bao gồm tham quan, học tập và thuyền thúng. Năm tháng đầu năm 2019, tổng thu 458.000.000 đồng, trong đó từ rau: 320.000.000 đồng, còn lại là du lịch bao gồm tham quan, học tập và thuyền thúng [4].

hinh 5- khxh

Hình 5: Trung tâm du lịch học tập tại Cẩm Thanh [3]

Những giá trị cộng đồng của hệ sinh thái rừng dừa nước này bao gồm giá trị tài sản cá nhân ví dụ như cây dừa nước, giá trị tài sản nhóm như nhóm đánh bắt thủy sản trong vùng cửa sông, rớ, lưới, lờ, nhóm thủ công mỹ nghệ, các nhóm này hoạt động theo một quy ước chung của nhóm nhằm duy trì sinh kế của mình, hoặc giá trị tài sản công cộng bao gồm giá trị cảnh quan, lịch sử, văn hóa, bãi giống, bãi đẻ, đất vùng triều. Những giá trị này được sử dụng chung bởi mọi người và thống nhất được Nhà nước quản lý. Vì vậy đại diện gốc gác của giá trị cộng đồng được thể hiện bởi 3 nhóm các bên liên quan bao gồm: BQL du lịch (đại diện tài sản công cộng – Nhà nước quản lý); nhóm người trồng cây dừa (đại diện tài sản cá nhân – Sở hữu cá nhân); nhóm đánh bắt cá trong vùng cửa sông (đại diện tài sản nhóm – Sở hữu nhóm). Ba nhóm các bên liên quan này đều có những lợi ích hài hòa và mong muốn lâu bền ở rừng dừa nước, ví dụ:

Nhóm BQL Du lịch Cẩm Thanh được thành lập theo quyết định của UBND Thành Phố có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan, cộng đồng thực thi các quy định của Nhà nước trong quản lý hoạt động du lịch tại rừng dừa, và các trách nhiệm khác liên quan. BQL Du lịch Cẩm Thanh phụ trách hoạt động thu vé tham quan du lịch trong rừng dừa nước Cẩm Thanh. Như vậy liên quan đến sức khỏe hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, hay nói đúng hơn liên quan tài sản công cộng trong rừng dừa nước Cẩm Thanh, BQL Du lịch Cẩm Thanh hoàn toàn đủ chức năng và trách nhiệm quản lý.

Nhóm người trồng cây dừa nước Cẩm Thanh với cây dừa nước là tài sản cá nhân thuộc về lợi tức của những người trồng dừa này. Người trồng cây dừa nước hiện tại khai thác lá dừa hàng năm và theo mùa vụ, phù hợp với hiểu biết về cây dừa được nhóm những người này tích lũy và sự dụng. Tuy nhiên, nếu một ai trong số người của nhóm này chặt hết các cây dừa mà họ trồng cũng đồng nghĩa là người đó phải rời bỏ khỏi nhóm.Vì vậy, mọi người trong nhóm người trồng dừa này đều mong muốn gìn giữ, nuôi dưỡng cây dừa được tốt tươi, để hưởng lợi lâu dài.

hinh 6- khxh

 

Hình 6: Mô hình phân tích hợp tác quản lý nguồn lợi trong hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh

Nhóm người khai thác thủy sản trong rừng dừa nước Cẩm Thanh với nguồn lợi thủy sản trong rừng dừa nước Cẩm Thanh là tải sản chung đang được người dân sử dụng bao đời, theo các phương thức khai thác truyền thống để hưởng lợi lâu bền. Tuy nhiên, mối quan hệ ứng xử giữa người khai thác và nguồn lợi tự nhiên ấy ngày nay thỉnh thoảng thường bị tổn thương do sự mất cân bằng giữa chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan khác nhau. Trong tương lai, nếu ứng xử giữa sử dụng và bảo vệ, bảo tồn không được hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau thì nguy cơ tổn thương sức khỏe hệ sinh thái rừng dừa nước sẽ lớn dần và sẽ suy sụp. Vì vậy, ba nhóm các bên liên quan cơ bản và quan trọng này trong rừng dừa nước Cẩm Thành cần phải cùng ngồi lại với nhau, cùng nhau đối thoại, hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm để quản lý tốt các giá trị tài nguyên.

3) Rác thải sinh hoạt cần được quản lý tổng hợp theo cách tiếp cận đồng quản lý

Rác thải hàng ngày vẫn được sản sinh, ngày một gia tăng, vì số người phát thải, vì thành phần, vì nhu cầu sử dụng hàng hóa, thực thẩm, bao bì! Vì vậy, bao giờ chúng ta mới có thể có được một sự đồng hành về quản lý rác thải tại cộng đồng. Làm thế nào mỗi sáng ra hoặc mỗi chiều về, người điều hành có thể có được một bức tranh tổng hợp, hôm nay, cộng đồng, hay thành phố này có bao bao nhiêu lượng rác thải được hình thành, thành phần nó là gì, rác thải đến từ đâu và đang đi đâu trên con đường đi của chúng?

Hội An đã và đang có một quá trình tiếp cận với quản lý rác thải một cách hệ thống rất quý giá được ghi lại từ những năm 2000 đến nay. Năm 2002 Hội An bắt đầu phân loại rác tại nguồn với chi tiết bao gồm rác dễ phân hủy sinh học, rác khó phân hủy sinh học và rác tái chế. Sáng kiến này được bắt đầu từ phường Minh An, những ngày đầu thực hiện sáng kiến, người dân và công ty công trình công cộng đã rất nhiệt tình tham gia, tuy nhiên sau đó, rác phân loại được phát hiện không tiếp tục tách riêng khi đến bãi rác mà cùng đổ chung lại với nhau, và từ đó người dân không chịu phân loại nữa. Đến năm 2006, Hội An, triển khai phân loại rác tại nguồn lần thứ 2 tại 4 phường nội thị (Minh An, Tân An, Sơn Phong, Cẩm Phô). Rác thải hộ gia đình vẫn được kêu gọi phân loại tại nguồn với 3 thành phần chính bao gồm rác thải tái chế, rác phân hủy sinh học.và rác không phân hủy sinh học. Các lớp tập huấn phân loại rác tại nguồn được tổ chức đồng thời các kết nối hỗ trợ được tập hợp từ dự án nhỏ GEF SGP cho mục tiêu lâu dài là nâng cao năng lực quản lý môi trường đô thị cổ Hội An theo các hướng giảm thiểu áp lực từ nước thải sinh hoạt, rác thải sinh hoạt, thông qua các nhóm hoạt động vận động xây dựng mô hình xử lý nước thải tại các nhà hàng khách sạn tại 2 phường Minh An, Cẩm Phô, mô hình tổ chức thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại xã Cẩm Thanh và xây dựng quy chế quản lý môi trường tại đô thị cổ Hội An. Song song với dự án GEF SGP (2006-2009) là đóng góp từ dự án xây dựng khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm về tổ chức phân loại, thu gom, xử lý rác thải hộ gia đình tại xã đảo Tân Hiệp. Tiếp nối các kết quả này, một nỗ lực mới đến với Hội An là dự án môi trường về xây dựng nhà máy phân compost, và nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt của thành phố (2006-2016). Đồng thời mô hình 3 R từ thành phố Naha (Okinawa) Nhật Bản (2008-2018) và pha 2 của dự án GEF – SGP (2010-2013) hỗ trợ xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải cũng được giới thiệu và triển khai, liên tục gắn kết Hội An vào hành động bảo vệ môi trường. 2017 tiếp cận với zero waste, các phong trào cộng đồng về bảo vệ môi trường như tổ chức thu gom rác thải trên các dòng sông tại Hội An, thu gom pin, mô hình làng quất không thuốc trừ sâu, phong trào thu gom rác thải bãi biển An Bàng, hoặc dự án thành phố sinh thái (Eco City) của nhóm tình nguyện viên quốc tế được ghi nhận. Gần đây 2018, dự án về đóng cửa bãi rác Hội An và xử lý khí bãi rác cũng như nâng cao năng lực phân loại rác tại nguồn và làm phân compost hộ gia đình (xã Cẩm Nam), và xúc tiến xây dựng kế hoạch quản lý rác thải thành phố Hội An (Dự án Canada) chuẩn bị khởi động; kèm theo đó là dự án zero waste từ Gaia đến Hội An về tiếp cận nâng cao năng lực của cộng đồng về giảm thiểu rác thải và đặc biệt là rác thải nhựa nguy cơ đến ô nhiễm đại dương; và một dự án nhỏ nữa từ Environmental Pacific là hỗ trợ tiếp cận cộng đồng Cù Lao Chàm đến với zero waste với các hoạt động MRF (mô hình tuần hoàn vật chất) bao gồm các công đoạn phân loại rác thải tái chế, làm phân compost, thu gom phân loại rác thải tại nguồn trên quy mô cộng đồng dân cư, trường học, làng quê với mong muốn áp dụng tại trường học và tại Bãi Hương. Cù Lao Chàm, và tương tự tại Cẩm Thanh cũng sẽ phối hợp với địa phương xây dựng một MRF thí điểm cùng kết hợp với tập huấn nâng cao năng lực như kiểm toán chất thải. Như vậy, với cách tiếp cận thực tế, phỏng vấn cộng đồng, chính quyền xã, hội phụ nữ về câu chuyện quản lý rác thải tại địa phương, và các cơ quan liên quan, câu chuyện về quản lý rác thải sinh hoạt tại Hội An được trình bày, nhằm mục đích giới thiệu đến người đọc cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như các áp dụng kết nối và đặc biệt các hướng đến tương lai nhằm góp phần giảm thiểu và không rác thải nhựa đại dương được đề cập.

Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt (ĐQL) theo phương thức phân loại rác tại nguồn (PLRTN) được thiết kế trên cơ sở khoa học về ĐQL, con đường đi của rác thải và định hướng chiến lược quản lý rác thải tại thành phố Hội An. Một giả định khoa học đặt ra là định hướng đó chỉ rõ rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt bao gồm rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Sau đó 3 loại rác thải sinh hoạt được thu gom và chuyển đến các điểm cuối cùng theo đúng quy định. Rác thải tái chế sẽ được chuyển đến các cơ sở thu mua phế liệu. Rác thải dễ phân hủy sẽ được chuyển đến nhà máy làm phân compost, hoặc các nơi làm compost hộ gia đình.Rác thải khó phân hủy sẽ được chuyển đến bãi rác Cẩm Hà.

Hoạt động thực tiễn đã chỉ rõ, nếu phân loại rác tại nguồn được tổ chức và duy trì một cách quy củ, thì ít nhất 30% lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày là tài nguyên, đó là rác tái chế. Và cáng đáng công việc này, tại Hội An hiện nay có phần đóng góp lớn của khoảng hơn 110 chị phụ nữ là người thu gom rác tái chế (ve chai) dạo quanh địa bàn thành phố và thu mua phế liệu. Họ là những người phụ nữ sinh sống tại Hội An và tại các làng quê gần thành phố này. Những năm trước đây và hiện nay, Hội LPPN Hội An là hạt nhân gắn kết các chị, thông qua nhiều hoạt động được tổ chức tư vấn cùng với các dự án và chương trình bảo vệ môi trường. Các chị cùng nhau tập hợp lại đi tham quan học tập cách làm mới, hay về thu gom xử lý rác thải tái chế, về trang thiết bị thu gom, về vay vốn tín dụng nhỏ, về sản xuất các vật dụng thay thế, thân thiện môi trường, về hoạt động truyền thông, về phong trào dọn sạch và làm đẹp đường làng, ngỏ xóm, về ngày Thứ Bảy / Chủ Nhật xanh, về xách giỏ đi chợ, về nói không với túi nylon, và gần đây là các sản phẩm nhựa sử dụng một lần. Các chị là một lực lượng mạnh!

Mô hình được thực hiện mang nội dung và hình thức phát triển cộng đồng vì vậy để thuận lợi triển khai các hoạt động của mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN cần phải xúc tiến công tác truyền thông nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng tiếp cận và tham gia các hoạt động của mô hình. Sự tham gia rộng rãi và tích cực của người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học vào mô hình bao giờ cũng tỷ lệ thuận với hiệu quả triển khai hoạt động. Đồng thời mô hình sẽ tạo điều kiện kế thừa một cách có hệ thống và phối kết hợp với các chương trình, dự án có liên quan tại địa phương một cách phù hợp.

Như vậy, theo lý luận thì mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN phải là công cụ giúp Nhà nước tổ chức và điều phối được các hoạt động liên kết giữa các lực lượng bao gồm người dân, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.Sự liên kết của 4 lực lượng này sẽ là nền tảng tạo nguồn lực cơ bản và lâu bền hỗ trợ mạnh mẽ cho quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố đạt được kết quả. Sự liên kết này cần được hỗ trợ để hình thành, phát triển và sau đó chính sự vững mạnh của nó sẽ thúc đẩy sự bền vững sau này và giảm nhẹ gánh nặng mà Nhà nước phải lo toan như hiện tại.

hinh 7- khxh

Hình 7: Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An [5].

Giải thích ý nghĩa của hình 5

hinh 8- khxh

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được bắt đầu từ bước phát sinh đến phân loại rác qua thu gom và điểm đến cuối cùng[15].

“Rác phát sinh”: Rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được ra đời từ 4 nguồn phát sinh chính đó là (1) hộ gia đình, (2) nhà hàng, khách sạn, (3) chợ, trường học, cơ quan, (4) đường phố, nơi công cộng.

“Phân loại rác”: Rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt là rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều nơi, rác thải phát sinh chưa được phân loại. Điều này có nghĩa là 3 loại rác bao gồm rác thải tái chế, rác khó phân hủy, rác dễ phân hủy không được tách biệt thành từng nhóm riêng biệt mà đang bị trộn lẫn nhau.

“Thu gom” là biểu hiện của giai đoạn rác thải được thu gom từ khắp nơi trong thành phố và được đưa về các điểm đến cuối cùng. Thực hiện hoạt động thu gom rác thải hiện nay chủ yếu là 3 lực lượng chính, đó là Công ty Cổ phần Công trình Công cộng của thành phố Hội An (CP CTCT), các Tổ thu gom tự quản và Đội ngũ những người thu mua ve chai của địa phương.

“Điểm đến cuối cùng” là nơi hoặc là không gian mà rác được đưa về tập kết trong thành phố một thời gian dài hoặc được chế biến trước khi chuyển ra ngoài địa bàn thành phố Hội An. “Điểm đến cuối cùng” hiện nay trên con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Hội An là bãi rác Cẩm Hà và các cơ sở thu mua phế liệu. Trong thời gian gần đây, ngoài bãi rác Cẩm Hà, các cơ sở thu mua phế liệu, thành phố Hội An còn đưa vào sử dụng Nhà máy làm phân compost và khái niệm làm phân compost hộ gia đình. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An vẫn còn một lượng đáng kể phát tán không kiểm soát được một cách tự do ngoài môi trường chung quanh như tại các bãi đất “hoang”, sông ngòi, bãi biển. Lượng rác thải sinh hoạt phát tán này thông thường được thu gom thông qua các phong trào dọn vệ sinh, làm sạch bãi biển, dòng sông chung của thành phố và các xã phường.

Lực lượng các chị thu gom ve chai và thu mua phế liệu là nguồn lực chính trong xây dựng và phát triển kinh tế rác thải, kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Đầu ra của hoạt động kinh tế này là những sản phẩm tái chế được sử dụng một cách hợp lý trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời phân compost, một nguồn dinh dưỡng hữu ích cho đất trồng nông lâm nghiệp. Có thể nói rằng nguồn lực công nhân cho 2 hoạt động sản xuất trên là lực lượng người thu gom ve chai và thu mua phế liệu, cũng như là những người nông dân sản xuất phân compost quy mô vườn rau, thôn, xóm. Cộng tác cho 2 hoạt động này là toàn bộ người dân của chúng ta, những người phải phân loại rác thải hàng ngày. Làm thế nào để có được 2 lực lượng này, một là đội ngũ những người thu gom ve chai và thu mua phế liệu, hai là những người nông dân sản xuất và sử dụng phân compost. Phế liệu thường được bán cho nhà máy, xí nghiệp, còn phân compost thì được dùng để bón cho đất cho cây, tuy nhiên nó phải ra tiền để có thể nuôi sống được người nông dân. Một ví dụ tại Vườn rau Thanh Đông, Cẩm Thanh, Hội An là rác thải hữu cơ hộ gia đình được làm phân compost và được gọi là compost hộ gia đình. Compost hộ gia đình sẽ được tham gia vào quy trình sản xuất tạo ra compost vườn rau hữu cơ theo tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đầu vào. Người nông dân vườn rau hữu cơ có đủ kinh nghiệm áp dụng được quy trình này vào sản xuất rau hữu cơ tại vườn rau và đây cũng là một sản phẩm du lịch lý thú khi người nông dân giới thiệu cho du khách.Một ví dụ khác được tìm thấy tại nhà hàng The Field rằng, rác thải dễ phân hủy (rác hữu cơ) được sử dụng làm phân compost với những hướng khác nhau. Rác hữu cơ bao gồm các loại rau, quả được dùng lên men sản xuất nước tẩy rửa, trong khí đó phần lá cây, vỏ chuối, cơm thừa, cá, thịt thì hướng theo compost có bổ sung men vi sinh. Và rồi, ở đây người ta còn hướng tới một làng quê có trồng rau, có làm lúa, có chăn nuôi gia cầm kết hợp để có sản phẩm phục vụ du lịch, không chỉ thức ăn, mà còn cảnh quê thơ mộng.

Tham gia nghiên cứu và khảo sát về quản lý rác thải hộ gia đình tại Lý Sơn, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Núi Thành, Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn trong những năm vừa qua, nhận thấy rằng rác thải sinh hoạt tại các địa phương chưa được quản lý theo một hệ thống tổng hợp và không theo con đường đi hoặc vòng đời của rác thải. Các địa phương như Lý Sơn, Đức Phổ (Quảng Ngãi) đã hình thành một tổ chức thu gom, xử lý với trách nhiệm trên toàn địa bàn của huyện, như Lý Sơn, có nhà máy rác, và Đức Phổ trong 2 năm gần đây cũng vừa khánh thành nhà máy rác tại Sa Huỳnh [5]. Với tổ chức là nhà máy rác, một hệ thống thu gom đến tận hộ gia đình, cũng như hệ thống làm phân compost và một lò đốt rác quy mô nhỏ. Ngoài ra trong khuôn viên của nhà máy rác còn có các hộc rác được cấu tạo có hệ thống thu gom nước rỉ rác ở tầng đáy và các hồ xử lý nước thải giảm nồng độ chất ô nhiễm trước khi được thải ra môi trường ngoài. Trước khi các nhà máy rác được vận hành, một đợt tập huấn về phân loại rác tại nguồn được tổ chức đến tận hộ gia đình. Như vậy đối với huyện Lý Sơn và huyện Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngãi, quản lý rác thải sinh hoạt đã được tổ chức, tuy nhiên mới chỉ ở góc độ hợp tác giữa nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân, trong cam kết ban đầu cho việc phân loại và thu gom, xử lý tại nhà máy. Tuy nhiên, quản lý rác thải sinh hoạt như theo ví dụ tại Hội An là một quá trình quản lý tổng hợp, theo con đường đi của rác, lấy phân loại rác tại nguồn làm phương thức tiếp cận nhằm gắn kết sự tham gia của tất cả các bên cơ quan, thiếu sự điều phối và thiếu các hỗ trợ từ các tổ chức cộng đồng, phong trào thiện nguyện, nhà khoa học, hợp tác quốc tế [5]. Chính vì vậy, quá trình hoạt động của quản lý rác thải tại hai huyện này đã và đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như sự quá tải trong các lò đốt rác, nguyên liệu đầu vào quá nhiều rác thải nhựa, hệ thống xử lý khí thải, cũng như nhiệt độ đốt trong buồng thứ cấp không cao. Và đâu đó đã gặp nhiều phản ứng từ người dân sinh sống chung quanh gần nhà máy rác, như nhà máy rác Sa Huỳnh hiện tại phải đóng cửa lò đốt rác. Đối với Đà Nẵng, hoạt động chính của quản lý rác là được xoay quanh các bãi rác với hoạt động chôn lấp hợp vệ sinh. Bãi rác có hệ thông thu gom nước rỉ rác. Đồng thời bãi rác cũng có một hệ thống lò đốt rác thải công nghiệp và rác thải ý tế, cũng như hệ thống xử lý nước thải và phân nhà cầu, một cách quy mô. Tuy nhiên trong thời gian hiện tại khối lượng rác thải sinh hoạt ngày một gia tăng, trong khi thành phần rác thải thay đổi, đặc biệt rác thải với hàm lượng plastic cao ngày càng nhiều, đã và đang là nguy cơ lớn đến sức chứa của các hố rác. Trong thời gian ngắn sắp đến rác thải thành phố Đà Nẵng được dự báo là sẽ tràn ngập, nếu như không có các giải pháp thay thế hoặc xây dựng những hố rác hợp về sinh mới.

Kiến nghị/Đề xuất

Nhìn nhận lực lượng và nguồn lực trong cộng đồng phục vụ cho quản lý tổng hợp của mô hình đồng quản lý rất là quan trọng.Trong khi phân tích quản lý rác thải trước đây, chúng ta nhìn nhận đối tượng chỉ là rác, hay nói cách khác là sự tồn tại và xuất hiện của nó tại một không gian và thời điểm nhất định. Đồng thời chúng ta nhìn nhận nó chỉ đơn thuần là rác hay nói cách khác là con người hay là tác nhân sản sinh ra nó. Mà tác nhân đó chính là mỗi chúng ta, ai ai cũng phải có trách nhiệm với hành vi đó của mình mỗi khi tạo ra rác thải. Vì vậy, quản lý rác thải, chính là quản lý đến xã hội, đến con người. Hay nói cách khác là quản lý để chuyển đổi hành vi của mỗi một con người. Cần phải có chính sách tạo thuận lợi cho người ngư dân Cù Lao Chàm được xúc tiến các hoạt động sinh kế gắn liền với ngư trường trong khu bảo tồn, cụ thể như hướng dẫn du khách bơi / lặn ngắm san hô, cảnh quan biển, đại dương, Người ngư dân địa phương sẽ không bắt cá trực tiếp trong vùng ngư trường, nhưng thay vào đó họ sẽ hướng dẫn cho du khách xem cá và thu nhập từ các dịch vụ này. Một vài ví dụ cho các tuyến tour đa dạng sinh học Cù Lao Chàm, các chương trình học tập của sinh viên, hướng dẫn viên du lịch Cù Lao Chàm đã và đang ghi nhận sự đóng góp của người dân địa phương / ngư dân vào hoạt động sinh kế thay thế nhưng không hoàn toàn tách rời khỏi ngư trường biển cả . Người dân địa phương phải được bảo vệ và phải được công nhận quyền sở hữu các giá trị tài sản cá nhân, nhóm và công cộng tại các khu bảo tồn.Người dân địa phương phải được phát triển, kiếm sống trên nền tảng sinh kế truyền thống mà thường ngày họ đã và đang làm.Những sinh kế mới được kiến tạo chỉ và chỉ khi là sự kết nối giữa các thành phần tài sản công cộng, nhóm và cá nhân trong hệ thống được nghiên cứu.Sự đồng thuận giữa các bên liên quan trong môi trường rất là quan trọng. Người dân địa phương hoặc người lao động tại đây phải là những người chủ thực sự đối với công sức và thành quả lao động của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo cáo kết quả các dự án GEF – SGP tại Hội An; (VNM/ICCA-GSI/2017/3).

[2] Chu Mạnh Trinh, 2014, Xây dựng mô hình đồng quản lý rác thải tại 2 xã, phường Cẩm Hà và Cẩm Phô, thành phố Hội An. Mã số: KC.01.09. BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm Hội An.

[3] Chu Mạnh Trinh, Lê Ngọc Thảo, Lê Vĩnh Thuận, Huỳnh Ngọc Diên, Phan Công Sanh, Nguyễn Tùng Linh, Lê Nhương, Nguyễn Thị Hồng Thúy, 2019, “Trường hợp nghiên cứu : 1/ Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) tại xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam; 2/ Mô hình đồng quản lý và phục hồi rạn san hô với sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp tại Khu Bảo tồn Biển Cù Lao Chàm” Luận cứ khoa học nhằm hài hòa các mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học, sinh kế bền vững và phát triển kinh tế xã hội ở Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, BQL Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, 5/2019.

[4] Chu Mạnh Trinh, Lê Nhương, Phan Công Sanh, 2019, “Du lịch học tập, mô hình phát triển bền vững sinh kế cư dân Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An”, Kỷ yếu Hội thảo: Tiềm năng & Giải pháp phát triển Làng Văn hóa du lịch huyện Chợ Lách trên nền tảng phát triển du lịch nông thôn, Huyện Chợ Lách – Bến Tre, ngày 04-05 tháng 6 năm 2019, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

[5] Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019, “Quản lý rác thải sinh hoạt Hội An, các hướng tiếp cận”, Tài liệu Hội thảo Quản lý rác thải, Tp. Phan Thiết, 28/6/2019, Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ Môi trường Toàn cầu, UNDP GEF SGP, Hà Nội, Việt Nam.

[6] Chu Mạnh Trinh, Bùi Đức Hùng, Trịnh Thị Thu (2018), “Giải pháp tài chính bền vững cho khu bảo tồn biển từ phát triển du lịch – Mô hình ở Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế lần thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững ở Miền trung Việt Nam và ASEAN, trang 601 – 619, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, ISBN: 978-604-956-319-5, 5/2018.

[7] Chu Mạnh Trinh (2011), Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển T11 (2011), 2, tr.79-95.

[8] Chu Mạnh Trinh (2016), Ứng dụng luận điểm 4 cột trụ giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; Nghiên cứu trường hợp điển hình về hoạt động môi trường của sinh viên Đại học Quảng Nam cùng cộng đồng ở Hội An, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Quảng Nam, ISSN 0866-7586. Số 08/2016.

[9] Chu Mạnh Trinh (2014), “Building Resilience in Hoi An city, Viet Nam through the Cham Islands Marine Protected Area (Chapter 17 – Viet Nam. P.149)”, Safe Havens: Protected Areas for Disaster Risk Reduction and Climate Change Adaptation. Gland, Switzerland: IUCN. xii + 168 pp , (Murti, R. and Buyck, C. (ed.) (2014).

[10] Chu Mạnh Trinh (2017), Du lịch Lý Sơn, Quảng Ngãi - Tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam, Trang Thông tin Điện tử (www.culaochammpa.com.vn).

[11] Thêm một tuyến du lịch sinh thái tại Cẩm Thanh, Đài Truyền thanh - Truyền hình, Hội An, http://www.hoianworldheritage.org.vn/vi/news/Du-lich-Hoi-An/them-mot-tuyen-du-lich-sinh-thai-tai-cam-thanh-1711.hwh.

[12] Tour thử nghiệm được hình thành kết nối vườn rau Thanh Đông với du lịch(VNM/ICCA-GSI/2017/3).

[13] UBND Tp. Hội An, 2018, Sách trắng rác thải thành phố Hội An, Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND Thành phố Hội An.

[14] UBND Tp. Hội An, 2019/QĐ-UBND, Quyết Định Kiện toàn Ban điều hành và các tổ chuyên môn chương trình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn thành phố Hội An, 11/8/2018, UBND Thành phố Hội An.

[15] Jane Singer, Kinh Thi Kieu, Andrea Emma Pravitasari, 2019, “Solid Waste Management in Tourist Destinations in Developing Nations: Case Studies in Hoi An, Vietnam, and Puncak, Indonesia”, Pages 189-206, Environmental Sustainability and Education for Waste Management, Implications for Policy and Practice, Winnie Wing Mui So,Cheuk Fai Chow, John Chi Kin Lee, 2019.

...