Nghiên cứu

Thành công và thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng tại Khu Dư trữ sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (Kinh nghiệm điển hình từ dự án dừa nước Cẩm Thanh, cua đá Cù Lao Chàm và quản lý rác thải Hội An)

PDFPrintE-mail

Friday, 11 August 2017 14:10 Hits:79

There are no translations available.

Theo dòng thời gian, Hội An đã từng và đang là nơi hội ngộ của du khách từ Tây sang Đông của cả hai miền Bắc và Nam bán cầu đến giao lưu, buôn bán, làm ăn, sinh sống, viếng thăm. Theo lớp không gian, Hội An cũng đã từng và đang là nơi gặp nhau của các nguồn tài nguyên sinh vật từ thượng nguồn đến hạ lưu, từ biển khơi đến lục địa và theo dọc vùng bờ đến trú đông, kết bạn, sinh sống, hoặc duy trì nòi giống. Con người và thiên nhiên đã từng và dường như đang “hội ngộ” tại Hội An – một vùng cửa sông và ven bờ trù phú của dòng sông Thu Bồn, làm nên sự đa dạng và độc đáo của một Di sản Văn hóa Thế giới, và một Khu Dự trữ Sinh quyển cho mai sau. Trong những năm qua, Hội An đã và đang khai thác thế mạnh này và kết quả Hội An cũng đã và đang mạnh và giàu lên từng ngày, làm rạng rỡ một đô thị cổ xinh đẹp, quyến rũ và tiếng vang khắp thế giới. Tuy nhiên, để một Hội An phát triển bền vững, Hội An cần phải bảo tồn và phát triển sự “hội ngộ” ấy, hội ngộ của con người và hội ngộ của thiên nhiên. Bài trình bày thảo luận về thành công lan toả, thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng ở Khu Dự trự Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An thông qua các điển hình từ dự án Dừa nước Cẩm Thanh, Cua Đá Cù Lao Chàm và Quản lý Rác thải Hội An.

1. Nhu cầu bảo tồn

Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (KDTSQ) được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 29/5/2009, với diện tích khoảng 33.737 ha và dân số gồm 93.060 người. Đặc trưng lớn nhất của KDTSQ là các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ bao gồm các cồn cát ven sông, bãi sú vẹt, rừng ngập mặn, vùng triều, bãi biển, thảm cỏ biển, rạn san hô, rong biển, rừng trên đảo hài hoà với hoạt động sống của con người (1). Các hệ sinh thái này đã và đang được tiếp cận quản lý theo một hệ thống bảo tồn đa dạng sinh học cao thông qua mục tiêu của Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2). Đồng thời hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường tại đây được định hướng bền vững theo các hình thức du lịch sinh thái Cù Lao Chàm, du lịch sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, du lịch biển Cửa Đại, du lịch vùng cửa sông Thu Bồn, du lịch vườn rau Trà Quế, làng nghề gốm Thanh Hà, làng nghề mộc Kim Bồng, bảo tồn cua Đá Cù Lao Chàm, nói không với túi nylon Cù Lao Chàm, phân loại rác tại nguồn toàn thành phố Hội An (3). KDTSQ với diện tích đủ rộng để thể hiện cách hài hoà giữa các lợi ích về tài nguyên thiên nhiên, văn hoá, xã hội và con người (4); trong đó bao gồm các vùng chức năng lõi, đệm và chuyển tiếp (5). Hiện tại KDTSQ được tiếp cận theo hướng quản lý tổng hợp, thích ứng và chia sẻ lợi ích giữa các nhóm cộng đồng địa phương (6). Trong những năm qua, KSTSQ này đã và đang là nơi cung cấp các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đào tạo, giám sát, quan trắc, giáo dục cho địa phương, quốc gia và quốc tế (7).

baclieu11082017-01

Hình 1: Khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An

Tuy nhiên, những nỗ lực của địa phương chỉ mới đáp ứng được một phần các nhu cầu quản lý bảo tồn, nhiều sáng kiến mới cần được tổng hợp và thực hiện để duy trì nhằm đáp ứng các tiêu chí của khu dự trữ sinh quyển. Các hệ sinh thái đặc trưng của vùng cửa sông Thu Bồn – Hội An và ven bờ chỉ mới được tiếp cận và triển khai mô hình bảo tồn biển tại quần đảo Cù Lao Chàm. Nhiều đầu tư mới cần quan tâm bằng hành động cụ thể cho bảo tồn hệ sinh thái vùng cửa sông Thu Bồn – Hội An. Không chỉ rừng dừa nước Cẩm Thanh, mà các cồn cát ven sông, bãi sú vẹt, thảm cỏ biển, các cây ngập mặn bản địa, bãi biển và rừng tự nhiên trên đảo cũng cần được quy hoạch bảo tồn; đồng thời kết nối hơn, hệ sinh thái vùng sông Cổ Cò và sông Trường Giang cũng cần được quan tâm bảo vệ (1). Bảo tồn đa dạng sinh học cần phải được nhanh chóng triển khai cho toàn vùng cửa sông và ven bờ của thành phố Hội An. Các nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học và chất lượng môi trường cần được thực hiện sớm nhằm cung cấp thông tin cho quy hoạch bảo tồn và sử dụng hiệu quả các giá trị dịch vụ sinh thái tại địa phương (2). Các mô hình khai thác, sử dụng bền vững và bảo vệ môi trường tại thành phố Hội An được hình thành và triển khai bước đầu đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương, nhất là mang lại nhiều cơ hội cho sinh kế thay thế mới, góp phần tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Tuy nhiên các mô hình này mới chỉ hoạt động nhỏ lẻ, chưa đủ sức lan tỏa, nhận thức và năng lực chung của cộng đồng chưa cao, người tham gia mà cụ thể là người dân hưởng lợi từ các mô hình này chưa tích cực với công tác bảo tồn. Các mô hình trên cần được tăng cường củng cố, nâng cấp để có thể đạt được hiệu quả cao hơn và bền vững hơn (3). Hiện tại KSTSQ có diện tích khoảng 33 km2 (33.737 ha) và được phân thành 3 vùng chức năng khác nhau, trong đó vùng lõi với diện tích 11.560 ha, vùng đệm khoảng 20.660 ha, và vùng chuyển tiếp là 1.517 ha; với diện tích này, KDTSQ có đủ điều kiện để thể hiện chức năng đặc trưng của một KDTSQ là hài hòa các lợi ích về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội và con người. Tuy nhiên trong những năm qua, khái niệm KDTSQ chỉ mới tập trung vào vùng lõi và chỉ đặt nặng vào các yếu tố bảo tồn và quản lý bảo tồn, mặc dầu điều này vẫn chưa thực hiện được hiệu quả vì trong vùng lõi của KDTSQ có đến 3.000 người dân sinh sống và mỗi năm phải nhận đến 500.000 khách du lịch. Khái niệm KDTSQ chưa được truyền thông, thảo luận một cách thường xuyên đến với cộng đồng trong các phần còn lại của thành phố Hội An. Điều này có nghĩa là hơn 90.000 người dân của thành phố chưa được biết và hiểu sâu sắc rằng họ đang sinh sống tại một nơi đã và đang được thế giới công nhận là KDTSQ, và chắc chắn rằng áp lực gia tăng từ các vùng này lên hoạt động bảo tồn ngày một cao (4). Sự phân chia các vùng chức năng một cách rõ ràng tại KDTSQ đã và đang tăng cường hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng như các hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác tại thành phố Hội An. Tuy nhiên, các vùng chức năng này cần được tiếp cận nhiều nghiên cứu cơ bản như điều tra, đánh giá đa dạng sinh học và chất lượng môi trường trong toàn vùng để có đầy đủ thông tin hỗ trợ cho việc quy hoạch và cập nhật quy hoạch phù hợp với tiềm năng và sử dụng hiệu quả tiềm năng của toàn KDTSQ (5). Nguyên tắc quản lý tổng hợp và quản lý thích ứng đã và đang được áp dụng tại KDTSQ, cũng như sự chia sẻ lợi ích giữa các nhóm cộng đồng hưởng lợi, tuy nhiên hiệu quả mang lại cũng như hoạt động triển khai các nguyên tắc này chưa được tích cực. Quản lý tổng hợp và quản lý thích ứng và lợi ích chia sẻ giữa các nhóm cộng đồng trong KDTSQ cần được nghiên cứu, cập nhật thông tin, tăng cường hoạt động giám sát để có thể đánh giá hiệu quả của mô hình và điều chỉnh chính sách phù hợp với mục tiêu của bảo tồn và phát triển bền vững tại đây (6). Trong những năm qua, KDTSQ đã là cơ sở thực nghiệm cũng như cung cấp các hoạt động hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học, đào tạo, giám sát, quan trắc, giáo dục rất hiệu quả cho các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hoạt động này cần được tăng cường hợp tác và triển khai trên khắp các vùng chức năng của KDTSQ nhằm tạo nguồn thông tin hỗ trợ cho công tác bảo tồn và phục vụ quản lý. Ngoài ra đây cũng chính là một hình thức du lịch mới tại địa phương góp phần gia tăng thu nhập cho cộng đồng (7).

2. Bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh

Rừng dừa “Bảy Mẫu” (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh với diện tích khoảng 84 ha là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản của nhiều động vật biển có giá trị kinh tế cao; đa dạng sinh học nơi đây đã và đang mang lại sự trù phú cho người dân. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của việc khai thác không lợp lý, các nguồn lợi đang có xu hướng suy giảm và sinh kế của dân cũng khó khăn dần. Gần đây, Cẩm Thanh đón hàng trăm ngàn khách du lịch mỗi năm, tập trung vào các hoạt động tour xe đạp ngắm cảnh nông thôn và rừng dừa nước, làng nghề, bơi thuyền thúng, học nấu ăn, và nghỉ dưỡng; trong đó, nổi bật nhất là hoạt động bơi thuyền thúng, homestay và làng nghề truyền thống tre, dừa. Bơi thuyền thúng trong rừng dừa nước được nhiều du khách lựa chọn khi đến Cẩm Thanh, thực hiện bởi các Tổ du lịch cộng đồng với 12 thành viên từ ngày đầu thành lập, lên 27 và đến nay cả hàng trăm người, hoạt động theo Quy chế được xây dựng từ cộng đồng. Du khách được người dân hướng dẫn cách bơi thúng, và sau đó tự tay mình bơi thúng vào rừng dừa với giá 75.000 đồng/người cho một giờ bơi. Lao động bơi thúng tại Cẩm Thanh chủ yếu rơi vào 2 nhóm tuổi từ 41 - 50 tuổi và từ 51 - 60 tuổi và phần lớn là nữ chiếm 60%. Bơi thuyền thúng là một sinh kế mới trong khoảng 4-5 năm lại đây, và đã góp phần hỗ trợ cải thiện thu nhập hàng ngày. Dịch vụ nhà lưu trú homestay trong rừng dừa nước được thực hiện bởi khoảng 50 hộ gia đình và thu hút được du khách dựa trên các tiêu chí vui vẻ, thân thiện, nhiều cây xanh. Du khách homestay được cùng ở và cùng ăn với gia đình chủ nhà. Người chủ đóng vai trò như một hướng dẫn viên, nói chuyện với du khách nhiều thông tin thú vị về phong tục, tập quán ở làng quê Cẩm Thanh. Khách du lịch đến đây quanh năm nhưng nhiều nhất là khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Thu nhập hàng tháng của các homestay từ 9 đến 12 triệu. Mỗi homestay Cẩm Thanh có 3 đến 5 phòng. Giá mỗi phòng từ 20USD đến 50USD cho thời gian lưu trú là một ngày và đêm. Khách lưu trú tại các homestay thường kéo dài từ vài ngày đến một tuần. 100% du khách nghỉ tại các homestay Cẩm Thanh là người nước ngoài. Hiện tại, khoảng 20% các hộ gia đình tại xã Cẩm Thanh sử dụng cây dừa nước phục vụ cho hoạt động sinh kế và tăng thu nhập, với sản phẩm chính là phên, tấm lợp mái nhà được làm từ lá dừa nước, để xây dựng nhà hàng, quán cafe, khách sạn, khu nghỉ mát. Thu nhập của các hộ làm nghề tranh tre, dừa nước cao nhất là 10 – 15 triệu/tháng với 23%, từ 3 – 4 triệu/tháng khoảng 46%, và 6 – 7 triệu/tháng chiếm 31%. So với những năm trước đây, thu nhập của người dân tăng lên nhiều.

baclieu11082017-02

Hình 2: Quá trình bảo tồn và phát triển rừng dừa nước Cẩm Thanh, Hội An

Cơ chế tài chính bền vững cho quản lý và điều phối hoạt động bảo tồn và phát triển rừng dừa nước Cẩm Thanh được tiếp cận không chỉ là sự đóng góp bằng tiền mà cần phải đa dạng nguồn lực để tạo sự tham gia dễ dàng cho cộng đồng. Các ý tưởng bảo tồn và phát triển rừng dừa nước Cẩm Thanh cần được hình thành trên nguồn lực cộng đồng có, không nên từ cái cộng đồng cần và kết quả cần được tổng hợp trong một khung phân tích nhằm thuận lợi tiếp cận tổng thể, dễ dàng thừa kế và định hướng hoạt động kế tục trong tương lai, ví dụ như sự kết nối Cẩm Thanh từ bến cảng Cửa Đại nhằm mục đích cung cấp thông tin về Cẩm Thanh cho du khách đến Hội An và du khách có thể đi thăm Cẩm Thanh bằng thuyền xuất phát từ bến cảng Cửa Đại. Cung cấp chuyên gia từ dự án cho các hoạt động của các bên liên quan về rừng dừa nước, để có kết quả chung cũng là một cách huy động vốn… Lồng ghép kết quả dự án vào hoạt động của địa phương (du lịch rừng dừa), ví dụ như so sánh doanh thu giữa tổ cộng đồng bơi thúng du lịch và công ty Eco-tour thì có sự chênh lệch rất lớn nghiên về phía công ty, mặc dù tổ cộng đồng và công ty cùng hoạt động trong một phạm vi như nhau. Điều này phản ảnh rõ sự chênh lệch năng lực làm du lịch giữa công ty Eco-tour và người dân trong tổ cộng đồng bơi thúng. Tuy nhiên về mặt bảo vệ và phát triển nguồn lợi trong rừng dừa nước thì vai trò và trách nhiệm của người dân trong tổ cộng đồng là rất lớn. Vì vậy một cơ chế hỗ trợ hoặc chia sẻ lợi ích từ hoạt động khai thác các dịch vụ sinh thái trong rừng dừa này cần phải được thảo luận giữa các bên liên quan một cách chi tiết và thống nhất; đầu vào dự án du lịch rừng dừa gắn kết giữa doanh nghiệp với cộng đồng địa phương.

Kết nối với chương trình trồng rừng ứng phó biến đổi khí hậu ví dụ như tại Trung tâm truyền thông là điểm giới thiệu cho du khách về rừng dừa nước Cẩm Thanh, về cây dừa nước, cây ngập mặn, các động và thực vật đi kèm, cũng như các ngành nghề khai thác. Giới thiệu các sản phẩm thủy sản khai thác được trong rừng dừa nước cũng phải được đề cập, cũng như các sản phẩm được chế biến sản xuất từ cây dừa nước cần được nhấn mạnh. Các vai trò khác của rừng dừa nước như lọc nước, bãi giống, bãi đẻ của các loài thủy sinh, chắn gió, chắn sóng, đặc biệt trong bối cảnh của biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần phải được bao gồm. Các quy chế như quản lý hoạt động du lịch thuyền thúng; quy chế quản lý khai thác đánh bắt trong rừng dừa; đối thoại 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học, người dân địa phương về bảo tồn và phát triển rừng dừa nước lần lượt được đề cập; một ví dụ là sự phân chia các lợi ích mang lại từ hoạt động du lịch cần phải được chia sẻ một cách công bằng trong toàn cộng đồng; người khai thác các dịch vụ sinh thái của rừng dừa nước phục vụ du lịch cần phải có trách nhiệm đối với thiên nhiên của vùng. Không phải chỉ riêng hoạt động bơi thuyền thúng, homestay, tour tham quan làng quê, tour nấu ăn mới là du lịch sinh thái, các hoạt động liên quan như khai thác thủy sản trong rừng ngập mặn, ven sông, nuôi trồng thủy sản, làng nghề tre dừa và kể cả nghề nông trên những cánh đồng tại địa phương cũng đã và đang là cơ sở cho phát triển loại hình du lịch này. Vì vậy các dịch vụ sinh thái cần phải được chi trả để bù đắp vào sự mất mát, tổn thất trong quá trình sử dụng và tái đầu tư cho thiên nhiên nhằm đảm bảo sự cung cấp lâu bền cho con người. Sự chi trả này được tính toán và phân chia một cách công bằng giữa mức độ khai thác và đóng góp của người dân. Tuy nhiên các chi trả cần phải được tập hợp lại thành một Quỹ chung tạm gọi là Quỹ phục hồi thiên nhiên. Quỹ này sẽ được được đầu tư ngược trở lại cho thiên nhiên thông qua các hoạt động nhằm quản lý, bảo vệ, duy trì và phát triển rừng dừa nước nói riêng và tài nguyên môi trường nói chung tại Cẩm Thanh.

Xây dựng kế hoạch quản lý hệ sinh thái rừng dừa nước; tiếp cận phát triển du lịch sinh thái; xây dựng làng rau hữu cơ; hoạt động du lịch nông thôn, sông nước; dịch vụ du lịch homestay, xe đạp, nấu ăn, làm ruộng…làng tranh tre dừa; trung tâm du khách; cũng như tham quan học tập, tập huấn…được tổ chức nhằm tăng cường năng lực cho các bên liên quan tham gia dự án; đối với các dự án mới cần tăng cường phần tổ chức này; trong khi Hội An phần lớn là kế thừa nhiều dự án trước đây. Nguyên tắc cơ bản của DLST là bảo tồn, là lợi ích của người dân địa phương phải đặt lên hàng đầu, tại vùng Cẩm Thanh này hoạt động du lịch do người địa phương thực hiện với vai trò tiên phong của nó là rất lớn và là cơ hội cho sự hình thành và phát triển của các hoạt động DLST của người dân tại địa phương. Vì vậy, xây dựng một cơ chế hợp tác hài hòa giữa các nhóm lợi ích mang lại từ hoạt động du lịch bao gồm người dân địa phương người ngoài địa phương và bảo tồn là rất quan trọng và cấp thiết.

3. Bảo tồn cua Đá Cù Lao Chàm

Cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) là động vật biển nhưng sống ở trên rừng, chỉ xuống biển vào thời gian sinh sản để duy trì nòi giống. Vì vậy cua Đá Cù Lao Chàm là “cầu nối” giữa biển và rừng và cũng đồng thời là sinh vật chỉ thị cho sức khỏe của hai hệ sinh thái biển và rừng tại Khu bảo tồn biển cùng tên này. Thời gian bầy đàn cua Đá phát triển hưng thịnh nhất cũng là lúc mà rừng Cù Lao Chàm xanh tươi cùng tiếng chim hót và biển Cù Lao Chàm cá tôm tràn ngập trong các rạn san hô. Tuy nhiên, cua Đá đã bị khai thác mãnh liệt cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của số lượng du khách đến thăm đảo hàng ngày. Sáng kiến xây dựng mô hình cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm được hình thành với mục đích bảo tồn, quản lý và sử dụng loài cua Đá này tại Cù Lao Chàm được bền vững. Nhóm cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm hiện tại tự quản lý khai thác theo công cụ nhãn sinh thái. Cua Đá được khai thác theo đúng quy định sẽ được dán nhãn và tiêu thụ hợp pháp trên thị trường. Cua Đá không có nhãn xuất hiện trên thị trường sẽ bị thu và trả về rừng. Thành viên trong nhóm họp vào cuối tháng để thảo luận hoạt động của tổ trong tháng và quyết định số lượng cua được bắt, giá bán cho tháng sau. Trong 4 năm từ 2013 đến 2016, đã khai thác và dán nhãn sinh thái tổng cộng 18.972 cua Đá, trong đó 12.780 đực và 6.192 cái. Năm 2016, tổng số được dán nhãn là 5.020 con, trong đó 3.582 đực và 1.438 cái; với kích thước trung bình chiều ngang mai cua khai thác 7,9 cm, so quy định tối thiểu 7 cm. Cua Đá khai thác đúng quy định được dán nhãn sinh thái. Giá bán tổi thiểu 1.000.000 đồng/kg; Lệ phí là 50.000 đồng/kg sử dụng vào chi phí in nhãn, quản lý, thuế tài nguyên và khác của Tổ. Từ ngày 1/8 đến 28/2 hàng năm, cua Đá được quản lý và bảo vệ theo Chỉ thị 04 - mùa sinh sản. Cua Đá được khai thác từ tháng 1/3 đến 31/7 hàng năm với số lượng cho phép khai thác là 10.000 con/năm, trọng lượng bình quân của cua Đá khai thác từ 4 đến 5 con trên một kg.

Mô hình cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm đã thực sự góp phần bảo tồn loài cua này tại Cù Lao Chàm vì đã bảo vệ được 75% số lượng cua Đá. Tổ cua Đá từ 18 thành viên ngày thành lập nay là 43 và đã đăng ký được nhãn hiệu sinh thái cho sản phẩm cua Đá Cù Lao Chàm. Khai thác cua Đá thường vào ban đêm và chỉ có người đàn ông trong gia đình thực hiện việc này, tuy nhiên phụ nữ là người bán cua Đá. Bắt cua Đá thường là những người ngư dân có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên gần đây, khi cua Đá trở nên mặt hàng quý đối với du lịch thì có nhiều thanh niên trẻ tham gia. Hiện tại số người trẻ tuổi đời dưới 30 tham gia bắt cua Đá lên đến 40% tổng số người bắt cua Đá.

baclieu11082017-03

Hình 3: Quá trình bảo tồn và phát triển cua Đá Cù Lao Chàm

Sáng kiến Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang góp phần vào phát triển du lịch sinh thái tại địa phương. Với hình ảnh con cua Đá được dán nhãn sinh thái thể hiện những nỗ lực rất lớn của cộng đồng với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Cua Đá dán nhãn sinh thái là sản phẩm du lịch tại Cù Lao Chàm, ngày nay khách du lịch đến với Cù Lao Chàm không chỉ để thưởng thức cảnh quan thiên nhiên, văn hóa mà còn đến để biết được cách ứng xử của người dân Cù Lao Chàm với con cua Đá như thế nào. Nhiều địa phương khác như Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quốc đã và đang học tập mô hình này để triển khai tại địa phương của mình.

Cua Đá được bảo tồn và khai thác hợp lý đã và đang góp phần vào giảm thiểu và thích ứng với BĐKH một cách tích cực vì muốn bảo tồn và khai thác cua Đá một cách bền vững Tổ cộng đồng và cộng đồng phải tích cực trong bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên. Loài cua Đá Cù Lao Chàm là loài cua sống cần có môi trường độ ẩm cao và nguồn thức ăn động thực vật đặc biệt là côn trùng phong phú, vì vậy cần phải giữ gìn rừng trong điều kiện khỏe mạnh. Hoạt động bảo tồn cua Đá đồng thời cung cấp một sinh kế cộng đồng bền vững đã và đang tạo điều kiện cho cộng đồng giảm áp lực khai thác biển, ảnh hưởng đến rạn san hô, thảm cỏ biển, đây là các hệ sinh thái góp phần trong giảm lượng khí nhà kính (lắng đọng CO2).

Trong tương lai phát triển du lịch sinh thái tại địa phương con cua Đá Cù Lao Chàm cần phải được bảo vệ và tăng giá trị trao đổi theo hình thức hàng hóa lên cao tương xứng với sự quý hiếm của nguồn gien này đang được bảo tồn và hình ảnh của những nỗ lực về sáng kiến dán nhãn sinh thái của cộng đồng. Con cua Đá cần được hỗ trợ tiếp tục để xây dựng và phát triển thành loài đặc trưng, hình ảnh đại diện của Cù Lao Chàm (flagship species).

Sáng kiến bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang thể hiện một sự tích cực trong việc bảo vệ quyền hưởng dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng. Con cua Đá là tài sản cộng đồng, thông qua mô hình, giá trị đó càng được hỗ trợ và cũng cố ý nghĩa hơn. Thông qua sự hợp tác bảo tồn và khai thác bền vững giữa các thành phần cơ bản là nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học/bảo tồn và người dân, con cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang được bảo vệ và bảo tồn. Lồng ghép vào mô hình 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học, và người dân địa phương trong đó phân tích rõ trách nhiệm và lợi ích mang lại từ kết quả dự án. Gắn kết vào truyền thông, giáo dục và đào tạo tại địa phương và trường đại học…Tiếp tục tăng cường công tác bảo tồn (ngân hàng cua Đá – Hòn Dài), cấm khai thác 3 năm liền…UBND xã phê chuẩn quy chế và các văn bản liên quan đến khai thác cua Đá hàng năm; Lồng ghép được các hỗ trợ nghiên cứu từ nhà khoa học, sinh viên vào hoạt động của Tổ cua Đá, thông tin khoa học và kỹ năng thực hành được giới thiệu (ví dụ: vận hành quy trình giám sát, kiểm tra, dán nhãn hàng ngày của Tổ cua Đá,…).

Sau khi dự án kết thúc (31/12/2012), tháng 2/2013 UBND xã Tân Hiệp, thành phố Hội An đã ban hành quyết định thành lập Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm, cùng với quy chế quản lý cua Đá Cù Lao Chàm và các văn bản liên quan kèm theo nhằm đảm bảo Tổ Cộng đồng hoạt động được hợp pháp tại địa phương theo đề nghị của Dự án. Và cũng chính từ thời gian này, Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đảm nhận trọng trách của mình cùng với chính quyền địa phương và các bên liên quan bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm một cách hiệu quả.

Năm 2014, Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm dưới sự giám sát và tư vấn trực tiếp của Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã tiếp nhận sự tài trợ tiếp theo của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN mà trực tiếp là Chương trình MFF (Rừng Ngập mặn cho tương lai) đã tiếp tục gắn kết 4 nhà Quản lý, Doanh nghiệp, Khoa học/Bảo tồn và Người dân trên cơ sở trách nhiệm và lợi ích nhằm tăng cường năng lực cho Tổ Cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững hơn đối tượng tài nguyên cua Đá này. Hỗ trợ, kết nối Tổ cộng đồng tham gia hội thảo, trình bày…; Gắn kết hoạt động du lịch sinh thái trên cơ sở bảo tồn cua Đá, cộng đồng hướng dẫn du khách…Tổ cộng đồng quyết định số lượng khai thác và giá bán trên cơ sở đề nghị của khoa học…Bảo tồn và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và cùng xã hội hành động về bảo vệ môi trường và động vật hoang dã tại địa phương và quốc gia. Hoạt động của Tổ cộng đồng đã tăng cường bảo vệ rừng tự nhiên Cù Lao Chàm thông qua việc nuôi thử nghiệm cua Đá trong Cộng đồng và sau thời gian thử nghiệm, người dân đã kết luận rằng tốt nhất là bảo vệ rừng tự nhiên vì với điều kiện môi trường thiên nhiên, loài cua Đá này sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh và bền vững hơn nhiều. Đồng thời Tổ cộng đồng với phương thức khai thác theo kích thước, số lượng, mùa vụ và vùng đã và đang bảo tồn được khoảng 75% số lượng cua Đá trong tự nhiên hàng năm.

3. Quản lý rác thải Hội An

Hội An là thành phố du lịch, hàng ngày có khoảng 75 tấn rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, nhà hàng, khách sạn, chợ, trường học, cơ quan và đường phố, nơi công cộng. Rác thải sinh hoạt được nhìn nhận theo 3 loại cơ bản. Đó là rác tái chế được thu gom bởi người thu mua ve chai và bán lại cho cơ sở thu mua phế liệu, rác khó phân hủy sinh học và rác dễ phân hủy sinh học. Trước đây, hầu như toàn bộ rác thải phát sinh không được phân loại; điều này có nghĩa là 3 loại rác bao gồm rác thải tái chế, rác khó phân hủy, rác dễ phân hủy không được tách loại thành từng nhóm riêng biệt mà bị trộn lẫn nhau. Thực hiện hoạt động thu gom rác thải hiện nay chủ yếu là 3 lực lượng chính, đó là công ty công trình công cộng của thành phố Hội An, các tổ thu gom tự quản và đội ngũ những người thu mua ve chai của địa phương. Sau khi được thu gom, rác thải được đưa về các điểm cuối cùng đó là bãi rác Cẩm Hà, nhà máy compost và các cơ sở thu mua phế liệu. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An vẫn còn một lượng đáng kể phát tán không kiểm soát được một cách tự do ngoài môi trường chung quanh như tại các bãi đất “hoang”, sông ngòi, bãi biển. Lượng rác thải sinh hoạt phát tán này thông thường được thu gom thông qua các phong trào dọn vệ sinh, làm sạch bãi biển, dòng sông chung của thành phố và các xã phường. Vì vậy, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An cần phải được định hướng theo một cách tiếp cận khoa học và phù hợp với thực tiễn, nhằm hiệu quả hơn với mục tiêu lâu dài là giảm thiểu rác thải sinh hoạt hàng ngày tập kết lên bãi rác Cẩm Hà, sử dụng được nguồn tài nguyên rác thải.

Rác thải sinh hoạt tại thành phố phố Hội An sẽ được phân thành ba loại bao gồm rác dễ phân hủy, rác khó phân hủy, và rác tái chế. Rác khó phân hủy sẽ được thu gom đưa về bãi rác Cẩm Hà; rác dễ phân hủy sẽ được thu gom đưa về nhà máy chế biến phân compost; và rác tái chế thông thường sẽ được người mua ve chai mua về bán lại cho các cơ sở thu mua phế liệu. Ngoài ra, một lượng rác phân hủy tại các xã vùng ven sẽ được người dân sử dụng làm phân compost hộ ga đình.

baclieu11082017-04

Hình 4: Quá trình xây dựng và phát triển quản lý rác thải cộng đồng tại Hội An

Để thực hiện được chiến lược trên, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An cần một mô hình thích hợp nhằm huy động được nguồn lực và sự tham gia đóng góp của toàn cộng đồng và xã hội. Nâng cao nhận thức, năng lực của cộng đồng về bảo vệ môi trường, vận động đông đảo nhân dân thực hiện tốt việc quản lý, phân loại rác thải sinh hoạt tại thành phố từ đó giảm áp lực lượng rác thải ra bãi rác chung của Thành phố. Các mô hình được triển khai gắn kết với các hoạt động của tổ chức Hội đã mang lại hiệu quả cao: Các mô hình đã giải quyết được nhiều vấn đề, vừa nâng cao ý thức cho người dân trong việc tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường, tăng được lượng rác được phân loại vừa tạo được nguồn quỹ hoạt động cho tổ chức Hội. Việc hỗ trợ cho các chị buôn bán ve chai được vay vốn đã giúp kết hợp đươc sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường. Nhìn chung các đối tượng vay vốn đều ý thức rõ về mục đích của việc sử dụng vốn vay nên đã tập trung vào các hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường hoạt động nên bước đầu đã phát huy được hiệu quả sử dụng vốn, tăng được nguồn thu nhờ vậy việc nộp gốc và lãi đều đúng theo quy định. Bên cạnh đó là các chị được hỗ trợ xe đẩy và xe đạp cải tiến cũng đã từng bước mở rộng thị trường thu mua các roại rác tái chế, lượng thu gom ngày càng nhiều (nhờ cải tiến phương tiện thu mua). Đây là một hoạt động rất thành công của dự án vì mang tính thiết thực, đã hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng hộ nghèo, khó khăn. Qua đó môi trường được đảm bảo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho chị em.

4. Bài học kinh nghiệm và ý tưởng đề xuất

Ý tưởng dự án được đề xuất cần được xây dựng dựa trên nền tảng cái cộng đồng có, không nên trên cái cộng đồng cần; Phát huy tối đa nguồn lực địa phương có để vận hành dự án; Nguồn vốn đối ứng cần được mở rộng khái niệm, không chỉ bằng tiền mà tất cả nguồn lực mà địa phương có để tham gia vào hoạt động dự án; Phương pháp và công cụ làm việc với cộng đồng cần được tiếp cận và nâng cao.

Kết nối kết quả dự án vào lợi ích của hoạt động tổ chức bởi các bên liên quan (ví dụ như Hội Nông dân, Doanh nghiệp dư lịch, chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương…); Quy chế quản lý được xây dựng trên sự đồng thuận của toàn cộng đồng;

Sự tham gia của đầy đủ các thành phần liên quan; Lồng ghép các hoạt động, hoặc hỗ trợ có thể từ các bên liên quan vào vận hành dự án; Phân tích các mối liên kết, hoặc các chuỗi giá trị kết nối đến sản phẩm dự án để kêu gọi, hoặc kiểm soát lẫn nhau.

baclieu11082017-05

Hình 5: Khung phân tích logic hỗ trợ cho tiếp cận quản lý tài nguyên môi trường tại địa phương

Phối hợp hoạt động với các bên liên quan (Hội Phụ nữ, Nông dân, Đoàn Thanh niên, Cựu Chiến binh, Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Thương mại và Du lịch…Liên kết với các dự án, chương trình nghiên cứu, thực địa tại vùng dừa nước.

Nguồn vốn đối ứng không chỉ bằng tiền mà còn là sự chia sẻ hoạt động, kết quả nghiên cứu, nguồn lực khác từ các bên liên quan cho hoạt động, vận hành dự án được tiếp cận.

Khó khăn gặp phải trong duy trì và phát triển kết quả lớn nhất là sự bùng nổ các nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp về dịch vụ du lịch, phát triển hạ tầng, quy hoạch…. Giải pháp khắc phục là đề xuất đối thoại giữa các bên liên quan, cụ thể là 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân để hài hòa phát triển và bảo tồn hay nói cách khác là kinh tế bảo tồn. Xây dưng kế hoạch quản lý, quy hoạch bảo tồn,..

5. Kết luận

Nằm cuối dòng sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam, thành phố Hội An được thừa hưởng một sự đa dạng các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ. Các bãi sậy, cồn cát, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, quần cư rong biển, rừng tự nhiên trên đảo, cảnh quan trên cạn và dưới nước đã và đang mang lại cho Hội An một sự giàu có từ các dịch vụ sinh thái, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là hình thức du lịch sinh thái. Tuy nhiên việc khai thác và sử dụng các dịch vụ sinh thái này đã và đang trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và mang lại cho Hội An nhiều giá trị bảo tồn thành công lan tỏa, nhưng cũng lắm thách thức trong tương lai. Một loạt các bài học kinh nghiệm được thảo luận và đúc kết theo từng giai đoạn của một chặng đường dài quản lý và sử dụng tài nguyên và môi trường tại địa phương được đính kèm:

(1) Bài học kinh nghiệm về sử dụng tài nguyên và môi trường trước năm 1999 bao gồm khai thác san hô làm vôi, cement; chuyển diện tích rừng dừa nước sang ruộng muối, ao hồ nuôi tôm, cá, khai thác không hợp lý nguồn lợi thủy sản tại các sinh cảnh quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng cửa sông…

(2) Thành quả khai thác và sử dụng các lợi ích đa dạng của tài nguyên và môi trường thông qua các nỗ lực bước đầu của cộng đồng về xây dựng bảo tồn biển, và tiếp cận với danh hiệu khu dự trữ sinh quyển (1999-2009);

(3) Sự phát triển và những nỗ lực gia tăng về kinh tế, sinh kế cộng đồng và bảo vệ môi trường, tài nguyên, đồng thời những áp lực lớn dần có nguy cơ đe dọa sự bền vững tại địa phương trong giai đoạn 2010 – 2015 như xói lở bờ biển, chất thải, khai thác nguồn lợi, thiên tai;

(4) Định hướng Hội An phát triển bền vững bao gồm tăng cường phục hồi các hệ sinh thái cơ bản của Hội An bao gồm vùng cửa sông Thu Bồn – Hội An, rừng ngập mặn, bờ biển, thảm cỏ biển, rạn san hô, rừng tự nhiên trên đảo, và tiếp cận quản lý, bảo vệ, bảo tồn, sử dụng lợi ích mang lại từ các dịch vụ hệ sinh thái theo các chỉ thị, chỉ số sức khỏe của các hệ sinh thái trên.

Trong quá trình bảo tồn và phát triển, các dự án điển hình GEF SGP đã và đang đóng góp nhiều nỗ lực nền tảng hỗ trợ cho Hội An vững bước trên con đường lựa chọn này, cũng như sẳn sàng với thách thức trong tương lai, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng.

Chu Mạnh Trinh - Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

 

Một số kết quả, hạn chế và định hướng trong công tác quản lý bảo tồn biển tại Việt Nam

PDFPrintE-mail

Thursday, 20 July 2017 09:28 Hits:222

There are no translations available.

I. Một số kết quả đạt được của Hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam

1. Hệ thống hệ thống khu bảo tồn biển đang được hình thành

- Đến nay, 12 khu bảo tồn biển đã được thành lập và đưa vào hoạt động: Khu vịnh Nha Trang/Khánh Hòa (2001); Khu BTB Cù Lao Chàm/Quảng Nam (2004); Khu BTB Phú Quốc/Kiên Giang (2007); Khu BTB Cồn Cỏ/Quảng Trị (2009); Khu BTB Hòn Cau/Bình Thuận (2010); Khu BTB Bạch Long Vĩ/Hải Phòng (2014); Khu BTB Lý Sơn/Quảng Ngãi (2015)

- Có 04 khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết đang hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập: Khu bảo tồn biển Hòn Mê; Khu bảo tồn biển Nam Yết; Khu bảo tồn biển Phú Quý; Khu bảo tồn biển Hải Vân - Sơn Chà.

Read more...

 
 

Bảo tồn và phát triển rừng dừa (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam

PDFPrintE-mail

Thursday, 15 June 2017 15:57 Hits:529

There are no translations available.

Nằm cuối dòng sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam, thành phố Hội An được thừa hưởng một sự đa dạng các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ. Các bãi sậy, cồn cát, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, quần cư rong biển, rừng tự nhiên trên đảo, cảnh quan trên cạn và dưới nước đã và đang mang lại cho Hội An một sự giàu có từ các dịch vụ sinh thái, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là du lịch. Rừng dừa “Bảy Mẫu” (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh với diện tích khoảng 84 ha là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản của nhiều loài động vật có giá trị kinh tế cao. Đa dạng sinh học nơi đây đã và đang mang lại sự trù phú cho người dân, tuy nhiên, do ảnh hưởng của việc khai thác không lợp lý, nguồn lợi đang có xu hướng suy giảm và sinh kế của dân khó khăn dần. Báo cáo đã ghi lại nỗ lực của cộng đồng Cẩm Thanh trong công tác bảo tồn và phát triển rừng dừa nước này, đồng thời nhiều bài học kinh nghiệm cũng được đúc kết và phân tích.

Read more...

 
 

Trai tai tượng (tridacna) trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Cần được bảo vệ và phục hồi khẩn cấp!

PDFPrintE-mail

Wednesday, 07 June 2017 16:15 Hits:537

There are no translations available.

Thông tin chung

Trai tai tượng (tridacna) là loài động vật thân mềm, hai mảnh vỏ, có giá trị cao ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chúng được sử dụng rộng rãi trong nuôi cảnh và chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do có kích thước lớn, màu sắc khoang vỏ đa dạng, sặc sỡ. Về sinh học, Trai tai tượng có nguồn gen quý hiếm, giữ vai trò quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái rạn san hô.

Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy, Trai tai tượng chỉ phân bố trên các rạn san hô ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương [5]. Chúng có mối quan hệ mật thiết với quần xã và các điều kiện sinh thái trong hệ sinh thái rạn san hô. Những thay đổi của hệ sinh thái rạn san hô sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các loài Trai tai tượng [3], [4].

Ở Việt Nam, Trai tai tượng được tìm thấy tại 8 đảo: Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Hòn Cau, Hòn Mun, Nam Yết, Lý Sơn và Cù Lao Chàm. Ngoại trừ loài Trai tai tượng vàng nghệ (Tridacna crocea) còn khá phong phú ở Vườn quốc gia Côn Đảo, các đảo còn lại nguồn lợi này còn khá thấp [1].

 

Trong nhiều năm gần đây, nguồn lợi Trai tai tượng đang bị giảm sút nhanh chóng, một số loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do khai thác quá mức và thiếu hợp lý [1]. Hậu quả của việc này là nhiều loài đã được đưa vào Danh lục đỏ Việt Nam như loài Trai tai tượng khổng lồ (Tridacna gigas), Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa), Trai tai tượng lớn (Tridacna maxima),...vv. Đặc biệt 02 loài trước đây có thông tin phân bố ở vùng biển Việt Nam là Trai tai tượng khổng lồ và Trai tai nghé (Hippopus hippopus) không còn phát hiện trong các nghiên cứu gần đây [1].

Read more...

 
 

Bảo tồn và phát triển cua đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii)

PDFPrintE-mail

Wednesday, 07 June 2017 15:56 Hits:328

There are no translations available.

Sáng kiến bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) đã và đang thể hiện một sự tích cực trong việc bảo vệ quyền hưởng dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng Cù Lao Chàm. Cua Đá là tài sản cộng đồng, thông qua bảo tồn, giá trị đó càng được hỗ trợ và cũng cố ý nghĩa hơn. Với sự hợp tác giữa các thành phần bao gồm nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương, cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang được bảo vệ và bảo tồn. Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm hiện tại tự quản lý khai thác theo công cụ dán nhãn sinh thái. Cua Đá được khai thác đúng quy định sẽ được dán nhãn và tiêu thụ hợp pháp trên thị trường. Cua Đá không có nhãn xuất hiện trên thị trường sẽ bị thu và trả về rừng. Thành viên trong tổ thường xuyên thảo luận, đánh giá hoạt động bảo tồn, khai thác, mùa vụ, phạm vi, số lượng cua được bắt, giá bán...Báo cáo ghi lại những nỗ lực của cộng đồng tham gia bảo tồn và phát triển cua Đá Cù Lao Chàm, đồng thời các bài học kinh nghiệm được đúc kết và phân tích.

1. Tóm tắt sáng kiến

Tên sáng kiến: “Cộng đồng tham gia phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm”; Mã số: VN/SGP/UNEP-SCS/09/01; Địa điểm thực hiện: Xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, Quảng Nam; Thời gian triển khai: 9/2009 - 12/2012.

Sáng kiến được xây dựng với mục đích là “Cua Đá Cù Lao Chàm được phục hồi sinh thái và cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp bảo tồn và khai thác hợp lý loài động vật này”. Đồng thời các mục tiêu cụ thể của dự án được bao gồm (a) Cộng đồng tham gia phục hồi sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm; (b) Cộng đồng tham gia trong việc khai thác và quản lý bảo vệ bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm; (c) Hỗ trợ nghiên cứu thu thập thông tin làm rõ đặc điểm sinh học, sinh thái của chủng loài cua Đá Cù Lao Chàm; và (d) Xây dựng mô hình đồng quản lý bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi tự nhiên dựa trên cơ sở sự tham gia và chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương.

2. Các nhóm hoạt động chính đã triển khai

Thành lập tổ công tác, tập huấn chuyên môn, thu thập thông tin, tham vấn cộng đồng xây dựng quy hoạch và quy chế quản lý bảo vệ khai thác hợp lý. Thành lập tổ những người bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá và xây dựng quy chế, chương trình giám sát, dán nhãn, phục hồi sinh thái cua Đá. Thành lập đội gám sát bao gồm các thành viên của nhóm cua đá kết hợp với đội tuần tra bảo tồn biển, thực hiện công việc cân đo và dán nhãn sinh thái, ghi nhật ký và xử lý số liệu, báo cáo.

Hình 1 Landcrabs

Hình 1: Cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii)

Hội thảo cộng đồng và các bên liên quan về quy hoạch phân vùng và quy chế quản lý bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá, trình phê chuẩn. Xây dựng các tài liệu tuyền thông, phối hợp, cộng tác với sinh viên, tình nguyện viên thực hiện các đề tài, cấp học bổng nghiên cứu, thực tập, thiết kế mô hình, tổ chức nghiên cứu thực tiễn mô hình, xây dựng báo cáo, tổ chức hội thảo đánh giá nhân rộng.

Thảo luận thống nhất trong cộng đồng các hoạt động thu nhập thay thế; vốn vay tín dụng, theo dõi và đánh giá kết quả, đúc kết các bài học kinh nghiệm.

3. Kết quả và tác động nổi bật của sáng kiến

Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm hiện tại tự quản lý khai thác theo công cụ “dán nhãn sinh thái”. Cua Đá được khai thác đêm hôm trước phải được mang đến địa điểm trình diễn để được nhận diện, đo, cân và dán nhãn sinh thái vào sáng hôm sau. Những con cua Đá không đúng quy định sẽ bị trả lại rừng. Đội dân quân của Xã sẽ phạt và thu hồi những trường hợp cua Đá bán tại chợ hoặc nhà hàng không có nhãn sinh thái. Thành viên trong tổ họp vào cuối tháng để thảo luận hoạt động trong tháng và quyết định số lượng cua được bắt, giá bán cho tháng sau. Trong 4 năm từ 2013 đến 2016, đã khai thác và dán nhãn sinh thái tổng cộng 18.972 cua Đá, trong đó 12.780 đực và 6.192 cái. Năm 2016, tổng số được dán nhãn là 5.020 con, trong đó 3.582 đực và 1.438 cái; với kích thước trung bình chiều ngang mai cua khai thác 7,9 cm, so quy định tối thiểu 7 cm. Cua Đá khai thác đúng quy định được dán nhãn sinh thái. Giá bán tổi thiểu 1.000.000 đồng/kg; Lệ phí là 50.000 đồng/kg sử dụng vào chi phí in nhãn, quản lý, thuế tài nguyên và khác của Tổ. Từ ngày 1/8 đến 28/2 hàng năm, cua Đá được quản lý và bảo vệ theo Chỉ thị 04 - mùa sinh sản. Cua Đá được khai thác từ tháng 1/3 đến 31/7 hàng năm với số lượng cho phép khai thác là 7.000 con/năm, trọng lượng bình quân của cua Đá khai thác từ 4 đến 5 con trên một kg.

Mô hình cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm đã thực sự góp phần vào bảo tồn loài cua này tại Cù Lao Chàm vì đã bảo vệ được 75% số lượng cua Đá. Tổ cua Đá từ 18 thành viên ngày thành lập nay là 43 và đã đăng ký được nhãn hiệu sinh thái cho sản phẩm cua Đá Cù Lao Chàm.

Khai thác cua Đá thường vào ban đêm và chỉ có người đàn ông trong gia đình thực hiện việc này, tuy nhiên phụ nữ là người bán cua Đá. Bắt cua Đá thường là những người ngư dân có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên gần đây, khi cua Đá trở nên mặt hàng quý đối với du lịch thì có nhiều thanh niên trẻ tham gia. Hiện tại số người trẻ tuổi đời dưới 30 tham gia bắt cua Đá lên đến 40% tổng số người bắt cua Đá tại Cù Lao Chàm.

Hình 2 Landcrabs

Hình 2: Quá trình bảo tồn và phát triển cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii).

Sáng kiến Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang góp phần vào phát triển du lịch sinh thái tại địa phương. Hình ảnh con cua Đá được dán nhãn sinh thái thể hiện những nỗ lực rất lớn của cộng đồng với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Cua Đá dán nhãn sinh thái là sản phẩm du lịch tại Cù Lao Chàm, ngày nay khách du lịch đến với Cù Lao Chàm không chỉ để thưởng thức cảnh quan thiên nhiên, văn hóa mà còn để biết được cách ứng xử của người dân Cù Lao Chàm với con cua Đá như thế nào. Nhiều khu bảo tồn khác đã và đang học tập mô hình này cho địa phương của mình.

Hình 3 Landcrabs

Hình 3: Cua Đá được nhận diện, đo, cân và dán nhãn sinh thái nếu kích thước chiều ngang mai cua lớn hơn 7 cm.

Cua Đá được bảo tồn và khai thác hợp lý đã góp phần vào giảm thiểu và thích ứng với BĐKH một cách tích cực vì muốn bảo tồn và khai thác cua Đá một cách bền vững Tổ cộng đồng và người dân địa phương phải tích cực trong bảo vệ rừng và đặc biệt là rừng tự nhiên. Cua Đá Cù Lao Chàm là loài sống cần có môi trường độ ẩm cao và nguồn thức ăn động thực vật đặc biệt côn trùng phong phú, vì vậy rừng phải luôn được giữ gìn trong điều kiện khỏe mạnh. Hoạt động bảo tồn cua Đá cung cấp sinh kế cộng đồng bền vững đã và đang tạo điều kiện cho người ngư dân giảm áp lực khai thác biển, ảnh hưởng đến rạn san hô, thảm cỏ biển, đây là các hệ sinh thái góp phần giảm lượng khí nhà kính (lắng đọng CO¬2).

Hình 4 Landcrabs

Hình 4: Hoạt động dán nhãn sinh thái cua Đá được thực hiện hàng ngày tại điểm trình diễn.

4. Tính bền vững của sáng kiến

Vận hành mô hình phối hợp giữa Tổ cộng đồng, Hội Nông dân, UBND xã, Khu Bảo tồn biển,... trong việc xây dựng và phê chuẩn kế hoạch hoạt động hàng năm, người dân địa phương đã và đang bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm. Sự hợp tác giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương đã và đang là cơ sở duy trì tính bền vững của sáng kiến. Trên cơ sở quy chế quản lý cua Đá kiến nghị từ cộng đồng được chính quyền địa phương phê chuẩn, cua Đá được các bên liên quan giám sát tích cực về quyền lợi được chia sẻ. Các hỗ trợ nghiên cứu, cập nhật thông tin thông qua Khu Bảo tồn biển, dự án MFF, Trường Đại học, Viện Nghiên cứu được giới thiệu và ứng dụng vào thực tiễn tại địa phương. Năm 2014, với sự tài trợ của IUCN mà cụ thể là chương trình MFF, Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã tiếp nhận một dự án mới nhằm điều phối hoạt động của Tổ cua Đá thông qua đối thoại cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và nâng cao năng lực quản lý nguồn tài nguyên cua Đá giữa 4 nhà.

5. Bài học kinh nghiệm

Sáng kiến đề xuất cần được xây dựng dựa trên nền tảng cái cộng đồng có, không nên trên cái cộng đồng cần; Phát huy tối đa nguồn lực địa phương có để vận hành hoạt động của sáng kiến; Nguồn vốn đối ứng cần được mở rộng khái niệm, không chỉ bằng tiền mà tất cả nguồn lực mà địa phương có thể tham gia vào hoạt động của sáng kiến. Trong tương lai, cùng với sự phát triển du lịch sinh thái tại địa phương con cua Đá Cù Lao Chàm cần phải được bảo vệ và tăng giá trị trao đổi theo hình thức hàng hóa lên cao tương xứng với sự quý hiếm của nguồn gien này đang được bảo tồn và hình ảnh của những nỗ lực về sáng kiến dán nhãn sinh thái của cộng đồng. Con cua Đá cần được hỗ trợ tiếp tục để xây dựng và phát triển thành loài đặc trưng, hình ảnh đại diện của Cù Lao Chàm (flagship species).

Sự tham gia đầy đủ các thành phần liên quan, lồng ghép các hoạt động, hoặc hỗ trợ có thể từ các bên liên quan vào vận hành sáng kiến, phân tích các mối liên kết, hoặc các chuỗi giá trị kết nối đến sản phẩm từ sáng kiến để kêu gọi, hoặc kiểm soát lẫn nhau là những kinh nghiệm quý giá đúc kết được. Sáng kiến bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang thể hiện một sự tích cực trong việc bảo vệ quyền hưởng dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng. Cua Đá là tài sản cộng đồng, thông qua bảo tồn, giá trị đó càng được hỗ trợ và cũng cố ý nghĩa hơn. Với sự hợp tác bảo tồn và khai thác bền vững giữa các nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương, cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang được bảo vệ và bảo tồn. Các hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững cần được lồng ghép mô hình 4 nhà trong đó phân tích rõ trách nhiệm và lợi ích mang lại từ kết quả sáng kiến, cũng như gắn kết vào truyền thông, giáo dục và đào tạo tại địa phương và trường đại học, và tiếp tục tăng cường công tác bảo tồn (ngân hàng cua Đá – Hòn Dài), cấm khai thác 3 năm liền…

Hình 5 Landcrabs

Hình 5: Cua Đá tại Hòn Dài được bảo vệ không được khai thác trong 3 năm từ 10/2016 đến 8/2019.

Kết nối kết quả sáng kiến vào lợi ích của các bên liên quan trong phát triển kinh tế xã hội, đồng thời quy chế quản lý cua Đá cần được xây dựng trên sự đồng thuận của toàn cộng đồng. UBND xã phê chuẩn quy chế và các văn bản liên quan đến khai thác cua Đá hàng năm. Lồng ghép được các hỗ trợ nghiên cứu từ nhà khoa học, sinh viên vào hoạt động của Tổ cua Đá tạo môi trường cho thông tin khoa học và kỹ năng thực hành được giới thiệu, ví dụ như vận hành quy trình giám sát, kiểm tra, dán nhãn hàng ngày của Tổ cua Đá được hình thành và hoàn thiện theo thời gian hợp tác với các đối tác trên. Sau khi kết thúc hoạt động của sáng kiến (12/2012), tháng 2/2013 UBND xã Tân Hiệp, thành phố Hội An đã ban hành quyết định thành lập Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm, cùng với quy chế quản lý cua Đá Cù Lao Chàm và các văn bản liên quan kèm theo nhằm đảm bảo Tổ Cộng đồng hoạt động hợp pháp tại địa phương. Và cũng chính từ thời gian này, Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đảm nhận trọng trách của mình cùng với chính quyền địa phương và các bên liên quan bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm một cách hiệu quả. Hỗ trợ, kết nối Tổ cộng đồng tham gia hội thảo gắn kết hoạt động du lịch sinh thái trên cơ sở bảo tồn cua Đá, cộng đồng đã hướng dẫn du khách và quyết định số lượng khai thác cùng giá bán trên cơ sở đề nghị của khoa học. Bảo tồn và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và cùng xã hội hành động bảo vệ môi trường và động vật hoang dã tại địa phương và quốc gia. Hoạt động bảo vệ rừng tự nhiên Cù Lao Chàm được nâng cao và đặc biệt thông qua việc nuôi thử nghiệm cua Đá, người dân đã kết luận rằng tốt nhất là bảo vệ rừng tự nhiên vì với điều kiện môi trường thiên nhiên, loài cua Đá này sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh và bền vững hơn nhiều.

6. Kết luận

Tiếp cận phát triển cộng đồng trên cơ sở tài sản, nguồn lực địa phương, đồng thời với đầu tư xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức, tiếp cận sinh kế thay thế trên cơ sở bảo tồn đã và đang tạo điều kiện cho người dân hưởng lợi trực tiếp từ bảo tồn. Mở rộng mô hình cho các đối tượng tài nguyên mục tiêu khác trong khu bảo tồn, xây dựng mô hình tổng hợp cho quản lý hệ sinh thái và vùng bờ là những nhu cầu tiếp theo của quá trình bảo tồn và phát triển. Cùng với chính quyền địa phương và các bên liên quan, tổ cộng đồng đã thực nghiệm một phương thức khai thác cua Đá có kiểm soát, cua Đá được khai thác với số lượng cho phép, không mang trứng, theo mùa vụ và kích thước chiều ngang mai cua không nhỏ hơn 7cm. Cua Đá được khai thác từ tháng 1/3 đến 31/7 hàng năm với số lượng lớn hơn 7.000 con. Cua Đá đạt tiêu chuẩn quy định sẽ được dán nhãn và được bán trên thị trường một cách hợp lệ. Cua Đá Cù Lao Chàm là động vật ưa ẩm và môi trường sống giàu côn trùng, và thực vật đa dạng. Vì vậy, người dân địa phương đã tham gia tích cực vào bảo vệ rừng để hưởng được nguồn lợi cao về cua Đá, góp phần đáng kể vào bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Đồng thời đây cũng là sinh kế cộng đồng hiệu quả gắn kết bảo tồn, bảo vệ môi trường, giảm thiểu biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xã hội địa phương hiện nay và trong tương lai. Sáng kiến được nghiên cứu hỗ trợ cải thiện chính sách quản lý tài nguyên môi trường một cách hiệu quả.

Chu Mạnh Trinh - Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam

 
 
  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  6 
  •  7 
  •  8 
  •  Next 
  •  End 
  • »

Page 1 of 8

..
 
Keonhacai