Nghiên cứu

Thách thức trong công tác bảo vệ, phục hồi quần thể rùa biển tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

PDFPrintE-mail

Monday, 20 November 2017 09:09 Hits:175

There are no translations available.

Rùa biển thuộc nhóm Bò sát, giống như các loài rùa nước ngọt, ba ba, cá sấu, rắn...vv. Chúng xuất hiện trên trái đất cách đây khoảng 200 triệu năm, trước khi các loài Khủng long ra đời. Nhưng trong khi các loài Khủng long đã bị tuyệt chủng thì Rùa biển nhờ vào sự thích ứng của chúng với môi trường đại dương nên vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.Tuy nhiên, rùa biển đang bị suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể cả ở trên thế giới và Việt Nam.

Theo các nghiên cứu, tại Việt Nam có 5 loài Rùa biển phân bố, bao gồm Vích (Chelonia mydas), Quản đồng (Carettacaretta), Đồi mồi dứa (Lepidochelys olivacea), Đồi mồi (Eretmochelys imbricata) và Rùa da (Dermochelys coriacea). Trong đó, Vích là loài có số lượng cá thể nhiều nhất, phân bố tại hầu hết các tỉnh ven biển Việt Nam, tập trung tại các đảo xa bờ như Quan Lạn – Minh Châu (Quảng Ninh), Trường Sa, các bãi ngang ven biển tại các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị đến Ninh Thuận và một số đảo xa bờ tại Vịnh Thái Lan.

Trước đây, rùa biển đã từng xuất hiện và đẻ trứng ở hầu hết các bãi cát tại Cù Lao Chàm, trong đó nhiều nhất là các khu vực Bãi Bấc, Bãi Ông, Bãi Bìm,..vv. Tuy nhiên, do nhận thức hạn chế nên việc bắt rùa biển để ăn thịt hoặc lấy trứng rùa trong thời gian dài đã làm quần thể rùa biển ở đây bị biến mất. Theo các ngư dân lão luyện cho biết, khoảng hơn 20 năm nay họ không còn thấy rùa biển về đẻ ở khu vực Cù Lao Chàm.

Từ khi thực hiện công tác bảo tồn biển tại Cù Lao Chàm (năm 2003), nhận thức của cộng đồng và các bên liên quan về bảo vệ môi trường sinh thái được nâng lên rõ rệt, chất lượng môi trường biển được cải thiện. Do đó, rùa biển đã bắt đầu quay trở lại với Cù Lao Chàm. Đó là niềm hạnh phúc lớn lao không chỉ của người làm công tác bảo tồn biển mà là cả chính quyền và người dân nơi đây, vì công sức họ sau bao nhiêu năm đã bước đầu có được thành quả. Tuy nhiên, dù rùa biển được phát hiện đã trở về trong Khu bảo tồn biển nhưng vẫn chưa thể lên bờ để sinh đẻ, thực hiện chức năng thiên liên nhằm duy trì nòi giống là một vấn đề thực sự đáng e ngại.Nguyên nhân chính của vấn đề này là:

Khai thác không chủ ý:

Phần lớn thời gian sinh sống của rùa biển là ở dưới nước, do đó chúng rất dễ bị sa vào các lưới hoạt động khai thác hải sản trong vùng. Trong khi đó, hầu hết các ngư cụ khai thác hiện nay đều không có thiết bị cho việc thoát rùa biển. Điều đó làm tăng số lượng rùa biển bị đánh bắt một cách không chủ ý.

Theo kết quả khảo sát gần đây cho thấy, chỉ riêng các xã ven biển tỉnh Quảng Nam đã có 635 phương tiện khai thác hải sản hoạt động trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Nghề khai thác chủ yếu là: lưới rê, nghề câu, lưới kéo và lưới vây. Ngoài ngư dân Tân Hiệp, các địa phương có nhiều phương tiện nhất là Duy Nghĩa – Duy Xuyên, Tam Hải – Núi Thành, Cẩm An, Cẩm Kim – Hội An.

A-Thach thuc BV rua bien 20112017-01

Hình 1: Phân bố phương tiện KTHS theo nghề

Chỉ riêng tại xã Tân Hiệp, có khoản 345 hộ đang hoạt động khai thác gần xung quanh các đảo Cù Lao Chàm.Trong đó, nghề lưới 3 lớp được xác định thường xuyên có rùa biển mắc phải. Theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 2016 đến nay, có 11 cá thể rùa biển bị mắc lưới của ngư dân Cù Lao Chàm, nhưng chỉ có duy nhất 01 cá thể được phát hiện và giải cứu kịp thời, 10 cá thể còn lại đều bị chết trước khi được phát hiện. Do đó, việc bảo vệ và phục hồi rùa biển tại Cù Lao Chàm rất cần phải quan tâm đến yếu tố các hoạt động khai thác thủy sản trong vùng.

A-Thach thuc BV rua bien 20112017-02

Hình 2: Ngư trường của ngư dân Tân Hiệp

Ngoài ngư dân đến từ các địa phương trong tỉnh Quảng Nam, ngư trường Cù Lao Chàm còn là nơi hoạt động của nhiều phương tiện đến từ các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình Định. Điều này đã tạo thêm áp lực cho công tác bảo vệ nguồn lợi hải sản nói chung và Rùa biển nói riêng.

Mất dần các bãi đẻ của rùa biển:

Mặc dù có cuộc sống rong rủi khắp các đại dương, nhưng Rùa biển có tập tính rất đặc biệt mà tới ngày nay các nhà khoa học vẫn chưa lý giải được đó là chúng có khả năng quay trở về chính nơi chúng đã sinh ra để tiếp tục sinh đẻ, duy trì nòi giống.

A-Thach thuc BV rua bien 20112017-03

Hình 3: Rùa đẻ trên bãi cát

Rùa biển thường chọn các bãi cát sạch, hoang vắng hoặc ít có sự tác động của con người để sinh đẻ. Rùa rất sợ ánh sáng và tiếng động mạnh. Do đó, trước khi quyết định lên bãi cát nào đó để đẻ, chúng thường có hoạt động“thám thính” ở vùng nước trước khu vực bãi vào lúc chiều tối. Khi thấy an toàn, đợi lúc thủy triều lên cao và đêm khuya tĩnh mịch chúng mới bò lên để đẻ trứng, sau đó thực hiện các động tác xóa vết tích nhằm không cho kẻ thù tìm ra được tổ trứng của mình. Tuy nhiên, khi du lịch tại Cù Lao Chàm bùng phát, hoạt động tấp nập của du khách tại các bãi tắm, phương tiện cano ra vào bãi thường xuyên, xây dựng các khu nghĩ dưỡng,..đã làm mất đi tính hoang dã, sự yên lắng vốn có ở nơi đây. Từ đó, Rùa biển không còn nơi để đẻmặc dù chúng đã tìm đường về được với Cù Lao Chàm.

A-Thach thuc BV rua bien 20112017-04

Hình 4: Bãi Bìm (1) và Bãi Bấc (2) – nơi từng là bãi đẻ của rùa biển

Đầu tháng 9/2017,ngư dân địa phương đã phát hiện được 1 tổtrứng rùa biển(32 quả) trên rạn san hô tại khu vực đảo Hòn Dài ở độ sâu khoảng 10 mét. Đây được ghi nhận là trường hợp rất hiếm gặp cả ở Việt Nam và trên thế giới, vì tập tính của rùa biển là phải đẻ trên bãi cát. Một số chuyên gia về rùa biển nhận định: có thể cá thể rùa này đã từng được sinh ra ở Cù Lao Chàm trước đây, nay quay lại để sinh sản như tập tính tự nhiên của nó, nhưng vì không tìm được nơi an toàn để đẻ trứng nên rùa bị “tức trứng” phải đẻ dưới nước.

Chính vì vậy, để công tác bảo vệ và phục hồi rùa biển tại Cù Lao Chàm đạt hiệu quả, song song với giải pháp “chuyển vị” trứng rùa để bổ sung nguồn giống trong tự nhiên thì phải thực hiện đồng thời các giải pháp bảo tồn “nguyên vị” như: bảo vệ các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển; giải quyết vấn đề khai thác hải sản, đặc biệt là tại các vùng nước trước bãi cát; điều chỉnh hoạt động du lịch tại các bãi biển,..là hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

Chu Thế Cường và Bùi Thị Thu Hiền (2015). 101 Câu hỏi và Trả lời về Bảo tồn Rùa biển, Gland, Thụy Sĩ: IUCN. 68 trang.

Nguyễn Văn Vũ - BQL BTB CLC

 

 

Giải pháp tài chính bền vững cho các Khu bảo tồn biển Trường hợp nghiên cứu: Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

PDFPrintE-mail

Monday, 30 October 2017 09:26 Hits:655

There are no translations available.

Abstract

Khu Bảo tồn biển là công cụ hữu hiệu trong việc giảm thiểu sự suy giảm nguồn lợi do tác động của hoạt động khai thác, phục hồi sức khỏe các hệ sinh thái biển, cải thiện sinh kế cộng đồng người dân địa phương, góp phần phát triển kinh tế xã hội và gần đây nhiều nghiên cứu cũng đã nhận ra vai trò của nó trong việc thích ứng với tác động biến đổi khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, để vận hành hiệu quả một khu bảo tồn biển thực tế là việc không nhẹ nhàng, điều này dễ dàng nhận ra theo hệ thống các khu bảo tồn biển trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Có nhiều yếu tố liên quan đến vận hành hiệu quả một khu bảo tồn biển, tuy nhiên giải pháp tài chính bền vững là một trong những yếu tố quan trọng và thường gặp khi đối thoại với các khu bảo tồn biển về khó khăn và thách thức mà các khu này thường gặp. Thông qua thực tiễn quản lý tại các khu bảo tồn biển và đặc biệt tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, bài học kinh nghiệm được đúc kết về giải pháp tài chính bền vững cần được hiểu một cách hệ thống về giá trị dịch vụ sinh thái mà các khu bảo tồn biển được quản lý một cách hiệu quả mang lại, các nhu cầu sử dụng các giá trị dịch vụ này và cuối cùng một nguyên tắc là người sử dụng dịch vụ phải trả tiền. Đồng thời nguồn tài chính thu được từ sự gia tăng giá trị lợi ích sinh thái cần phải được sử dụng vào tái đầu tư hỗ trợ cho cải thiện sức khỏe hệ sinh thái mà khu bảo tồn biển đang bảo vệ và sử dụng một cách bền vững. Sự khỏe mạnh của các hệ sinh thái biển và bờ liên quan của khu bảo tồn biển là nguồn lực bền vững làm cơ sở tạo nên tài chính cho hoạt động bảo tồn tại đây. Bài trình bày được giới thiệu thông qua các nội dung: a) Nhu cầu cần được quản lý tổng hợp các khu bảo tồn biển; b) Tổ chức điều phối để đáp ứng được chất lượng của quản lý tổng hợp; c) Hoạt động điều phối trong quá trình quản lý tổng hợp các khu bảo tồn biển; d) Chi phí và lợi ích của quá trình quản lý tổng hợp; e) Các nguồn lực đầu vào của quá trình quản lý tổng hợp; g) Doanh nghiệp bảo tồn; h) Hoạt động giám sát đánh giá kết quả hoạt động doanh nghiệp bảo tồn; và i) Kết luận.

Read more...

 
 

Định hướng phân vùng trong các khu bảo tồn biển trên Thế giới – Nhìn lại thực tại Cù Lao Chàm

PDFPrintE-mail

Friday, 20 October 2017 15:47 Hits:534

There are no translations available.

Khu Bảo tồn biển (KBTB) là một trong những công cụ quản lý tài nguyên rất cần thiết để làm chậm lại và cuối cùng đảo ngược quá trình suy thoái hệ sinh thái ven biển nhằm phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái, nguồn lợi tự nhiên ở biển. Vì thế, điều quan trọng là thực hiện phân vùng như thế nào, dưới những điều kiện nào để các KBTB đạt hiệu quả nhất. Về cơ bản, một KBTB thường được quy hoạch theo những phân vùng chức năng như sau:

- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt (VBVNN) – No-take zone: nghiêm cấm hoàn toàn hoạt động khai thác.

- Vùng bảo vệ một phần (partially protected MPAs): nghiêm cấm theo mùa, theo vùng hoặc có thể xen kẻ các hoạt động khai thác hợp lý, du lịch.

Trên thế giới, các nhà khoa học đã nhận ra giá trị của KBTB, đặc biệt là các VBVNN trong việc cải thiện sức khỏe hệ sinh thái, bao gồm sự tồn tại và phát triển của ngành thủy sản và hơn nữa là giúp hỗ trợ các nguồn sinh kế thay thế bằng cách thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên ven biển như du lịch sinh thái [1]. Việc quy hoạch KBTB dựa trên khoa học đang được tiến hành tại rất nhiều quốc gia với những kết quả khả quan, có lợi cho các cộng đồng dân cư và hệ sinh thái liên quan. Tính đến tháng 3/2017, 6,5% diện tích đại dương là các KBTB và chỉ có 1,6% trong số đó là các VBVNN [3]. Mặc dù diện tích các KBTB được gia tăng hàng năm nhưng vẫn còn thấp so với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc đặt ra vào năm 2020 là 10% diện tích của đại dương là các KBTB.

Read more...

 
 

Tam Hải, Núi Thành, Quảng Nam tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững

PDFPrintE-mail

Friday, 18 August 2017 10:28 Hits:687

There are no translations available.

Được gọi là đảo, nhưng không xa lắm từ đất liền, chỉ cách một dòng sông, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, được che chắn bởi những dải đá trầm tích biến chất hàng trăm triệu năm tuổi và bao bọc chung quanh bởi 2 nguồn nước mặn và ngọt. Từ đó, nơi đây một nguồn tài nguyên phong phú, một cảnh quan môi trường nền nã được hình thành, tuy nhiên trong những năm qua, những giá trị ấy hầu như chưa được khơi dậy. Việc nhận diện những giá trị nỗi trội, tài sản cộng đồng hỗ trợ cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, ngoài những gì từ thiên nhiên, văn hóa, các đóng góp từ cộng đồng cũng cần được tổng hợp và khôi phục nhân rộng. Thông qua việc rà soát hoạt động đóng góp, nỗ lực bảo tồn tại địa phương trước đây, báo cáo đã kiến nghị các giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng phục vụ cải thiện sinh kế người dân, kinh tế xã hội Tam Hải, Núi Thành.

Read more...

 
 

Thành công và thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng tại Khu Dư trữ sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (Kinh nghiệm điển hình từ dự án dừa nước Cẩm Thanh, cua đá Cù Lao Chàm và quản lý rác thải Hội An)

PDFPrintE-mail

Friday, 11 August 2017 14:10 Hits:542

There are no translations available.

Theo dòng thời gian, Hội An đã từng và đang là nơi hội ngộ của du khách từ Tây sang Đông của cả hai miền Bắc và Nam bán cầu đến giao lưu, buôn bán, làm ăn, sinh sống, viếng thăm. Theo lớp không gian, Hội An cũng đã từng và đang là nơi gặp nhau của các nguồn tài nguyên sinh vật từ thượng nguồn đến hạ lưu, từ biển khơi đến lục địa và theo dọc vùng bờ đến trú đông, kết bạn, sinh sống, hoặc duy trì nòi giống. Con người và thiên nhiên đã từng và dường như đang “hội ngộ” tại Hội An – một vùng cửa sông và ven bờ trù phú của dòng sông Thu Bồn, làm nên sự đa dạng và độc đáo của một Di sản Văn hóa Thế giới, và một Khu Dự trữ Sinh quyển cho mai sau. Trong những năm qua, Hội An đã và đang khai thác thế mạnh này và kết quả Hội An cũng đã và đang mạnh và giàu lên từng ngày, làm rạng rỡ một đô thị cổ xinh đẹp, quyến rũ và tiếng vang khắp thế giới. Tuy nhiên, để một Hội An phát triển bền vững, Hội An cần phải bảo tồn và phát triển sự “hội ngộ” ấy, hội ngộ của con người và hội ngộ của thiên nhiên. Bài trình bày thảo luận về thành công lan toả, thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng ở Khu Dự trự Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An thông qua các điển hình từ dự án Dừa nước Cẩm Thanh, Cua Đá Cù Lao Chàm và Quản lý Rác thải Hội An.

Read more...

 
 
  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  6 
  •  7 
  •  8 
  •  Next 
  •  End 
  • »

Page 1 of 8

.