Nghiên cứu

Du lịch học tập, mô hình phát triển bền vững sinh kế cư dân Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An

PDF.InEmail

Thứ sáu, 06 Tháng 12 2019 11:13 Số truy cập:734

Chu Mạnh Trinh , Lê Nhương , Phan Công Sanh

Tóm tắt:

Du lịch học tập hiện nay với Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (Khu DTSQ) như một làn gió nhẹ thoảng qua các cánh đồng, vườn rau, làng dừa, theo các dòng sông tràn ra biển đảo, rồi lại quay về phố cổ để rồi cùng ngồi lại với nhau ngẩm nghĩ và đúc kết nhiều bài học từ các mô hình, nỗ lực đóng góp vào bảo vệ môi trường, sinh thái, sinh kế cộng đồng và phát triển bền vững. Du lịch học tập bước đầu đến từ các nhóm sinh viên, tình nguyện viên nghiên cứu, trong và ngoài nướcdần đến các lớp học được tổ chức rộng rãi cho cộng đồng người dân tại địa phương và khắp nơi, chỉ tính trong năm qua và 3 tháng đầu năm 2019, có hàng chục đoàn công tác đến du lịch học tập tại Cẩm Thanh, Hội An và các vùng phụ cận với khoảng 1.000 người, thêm vào đó cũng khoảng hơn 1.200 sinh viên từ các trường đại học Việt Nam và Quốc tế và hàng ngàn du khách thường xuyên từ các công ty lữ hành [14], [15]. Câu chuyện về du lịch học tập tại Khu DTSQ được mô tả tiếp theo sẽ phản ảnh từ góc độ tiếp cận các nỗ lực xây dựng và quá trình hình thành, công tác tổ chức vận hành, các kết nối cộng đồng và liên kết hệ thống, xây dựng năng lực, chia sẻ lợi ích và định hướng phát triển trong tương lai. Câu chuyện cũng đúc kết được nhiều kinh nghiệm và hướng chia sẻ nhân rộng nhằm mở rộng pham vi và gắn kết để hỗ trợ cho công tác bảo tồn và phát triển ngày một được hài hòa.

Từ khóa: Du lịch học tập, Khu dự trữ sinh quyển, Mô hình đồng quản lý, Quy hoạch không gian phát triển du lịch.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong suốt quá trình dài từ năm 2009 đến nay, Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An (Khu DTSQ) được biết đến qua chương trình, dự án nhất là các nỗ lực từ sự tham gia của cộng đồng địa phương, trong nước và quốc tế [2] như là một điểm sáng, nơi mà các sáng kiến được hình thành và phát triển. Các dự án tăng cường năng lực quản lý môi trường cho thành phố Hội An [10]; phục hồi và bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh phục vụ du lịch sinh thái và phát triển bền vững [13]; cộng đồng tham gia phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững cua đá Cù Lao Chàm [9]; và xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An [16] đã và đang để lại kết quả có tiếng vang không những trong nước mà còn đến với quốc tế. Con cua đá Cù Lao Chàm với nhãn hiệu sinh thái, cây dừa nước Cẩm Thanh với những chiếc thuyền thúng du lịch, nói không với túi nylon, phân loại rác tại nguồn…đã và đang đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế người dân và phát triển kinh tế xã hội.

Hòa cùng dòng chảy đó, làng quê Cẩm Thanh, vùng đệm của Khu DTSQ, đã và đang thay da đổi thịt từng ngày theo hoạt động du lịch thuyền thúngtại rừng dừa nước, với 15 thuyền năm 2011 đến nay đã lên hơn 1.500 thuyền thúng [2]. Vườn rau hữu cơ Thanh Đông, một định hướng của nông nghiệp sạch, sinh thái đã dần thu hút được khách du lịch thông qua tham quan học tập và chất lượng thân thiện môi trường của sản phầm. Mô hình quản lý rác thải dựa vào cộng đồng đã từng bước gắn kết được sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội, cũng như các nghiên cứu khảo sát, đánh giá khẳng định sự kết nối các kiểu hệ sinh thái và vùng giống, bãi đẻ, nuôi con non và nguồn lợi trong vùng cửa sông, ven bờ đến quần đảo Cù Lao Chàm, và sự hình thành ban quản lý du lịch xã Cẩm Thanh hiện tại là những nỗ lực to lớn của địa phương cho bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên với vai trò một vùng đệm của Khu DTSQ, Cẩm Thanh vẫn còn rất nhiều khó khăn và thách thức với nhiều bức xúc bao gồm như vườn rau hữu cơ ở quy mô nhỏ chỉ 1hecta diện tích và 10 hộ tham gia, chưa đủ rộng để có thể cáng đáng được nhiều nhu cầu lớn hơn của làng quê này. Hoạt động du lịch chưa được bền vững, tổn thương đến cây dừa nước, ô nhiễm tiếng ồn xua đuổi chim di cư, cùng với chèo kéo du khách, xây dựng ồ ạt đi kèm với rác thải, và đánh bắt hủy duyệt làm suy giảm chất lượng môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học. Hiện trạng sử dụng tài nghiên môi trường tại Cẩm Thanh đã và đang để lại nhiều mâu thuẫn lớn giữa bảo tồn và phát triển, trong khi cộng đồng muốn giữ gìn, bảo vệ tài nguyên môi trường để hưởng dụng lợi ích cao hơn nhưng năng lực tham gia quản lý, bảo vệ của cộng đồng chưa được tương xứng.

khxh1

Hình 1: Sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, nơi hạ nguồn là thành phố Hội An, rừng dừa nước Cẩm Thanh và quần đảo Cù Lao Chàm gần bờ, cách vùng cửa sông 15 km [6]

Vì vậy, ý tưởng du lịch học tập nhằm kết nối hài hòa các sáng kiến cộng đồng trong Khu DTSQtại làng quê Cẩm Thanh, nhằm hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế người dân và phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững là một sự cần thiết không những hiện nay mà cho cả tương lai. Thực hiện ý tưởng này không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng làng quê Cẩm Thanh, mà còn góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng các mô hình bảo tồn tại Hội An, phù hợp với tiếp cận nhiều nguồn lực hợp tác 4 nhà: quản lý, doanh nghiệp, khoa học, và người dân. Đồng thời tiến hành hoạt động du lịch học tậpsẽ xây dựng và phát triển một bộ máy điều phối công tác bảo tồn một cách hoàn thiện, có thể đảm nhận được các hoạt động kinh tế xanh – kinh tế bảo tồn; những bài học kinh nghiệm đúc kết được, các kỹ thuật mô hình hệ thống tại Khu DTSQ là vô cùng quý giá, cần được nhân rộng và tạo điều kiện để các địa phương trong vùng, các cơ sở đào tạo, các khu bảo tồn đến học tập.

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực địa phươngABCD (asset based community development); phân tích hiện trạng quản lý di sản theo khung dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, đáp ứng DPSIR (drivers, pressures, state, impact, responses); nguyên tắc cụ thể, lượng hóa, khả thi, hợp lý, thời gian SMART (specific, measurable,attainable, reasonable, time), phân tích mặt mạnh, yếu, cơ hội và thách thức SWOT (strengths, weaknesses, opporntunities, threats) được sử dụng.

2.2. Kế thừa nguồn tài liệu thứ cấp, và làm việc nhóm.

2.3. Thực địa theo tour bằng xe đạp, thuyền thúng và đi bộ, với phỏng vấn, quan sát, ghi chép, thảo luận, trình bày theo học cụ giấy A0, bút màu, máy ghi âm, ghi hình.

III. HOẠT ĐỘNG

3.1. Tổ chức tập hợp lực lượng cộng đồng thiết kế tour, phân công nhiệm vụ, tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn, thuyết minh.

3.2. Tổ chức tour học tập với các chương trình tour 1 ngày, tour 2 ngày, 1 đêm, tour 4 ngày 3 đêm đối với người tham gia từ các cộng đồng làng chài tại Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, sinh viên từ trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học Cẩn Thơ, Đại học Khoa học Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Portland, Oregon, Hoa Kỳ, các lớp tập huấn quốc tế Zero Waste – Gaia, Chi cục Biển Đảo Quảng Nam, Hội Liên hiệp khoa học Kỹ thuật Nghệ An,…

3.3. Phối hợp với chính quyền địa phương trong xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho trung tâm giáo dục cộng đồng, trang thiết bị, phương tiện truyền thông 1 chiều.

3.4. Liên kết với trường đại học, giảng viên hợp tác tổ chức đào tạo tại địa phương

3.5. Tổng hợp, đúc kết xây dựng mô hình

3.6. Hội thảo trình bày, nhân rộng mô hình

3.7. Tổ chức famtrip giới thiệu tour du lịch học tập

IV. KẾT QUẢ

4.1. Cộng đồng ba làng dừa, lúa, và rau tại xã Cẩm Thanh được kết nối du lịch học tập qua câu chuyện kể về sự chuyển biến theo thời gian theo kết quả của các dự án Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF – SGP) về thu gom, phân loại rác tại nguồn, làm phân compost, xây dựng tổ tự quản, cũng như các hoạt động về bảo vệ, bảo tồn rừng dừa nước, xây dựng và phát triển sinh kế thay thế, kết nối cùng các kết quả hợp tác từ Quỹ Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình hành động vì đô thị (Action for City), Quỹ Động vật Hoang dã (WWF), Chương trình Liên minh Đất ngập nước (WAP) và Vườn rau hữu cơ Thanh Đông [12]. Hoạt động của vườn rau hữu cơ Thanh Đông trong giai đoạn từ năm 2015, 2016, 2017 [11] là một quá trình hợp tác và gắn kết rất hài hòa giữa người nông dân, chính quyền địa phương và nhà khoa học nhằm phục hồi các giá trị truyền thống của nông nghiệp làng quê Việt Nam, cải thiện dần tác động môi trường sinh thái từ những can thiệp của hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học gây ô nhiễm. Năm 2018, vườn rau hữu cơ Thanh Đông tiếp cận đề tài Viện Địa Lý (ĐTDL.XH-02/16), nhằm xây dựng mô hình hài hòa giữa lợi ích bảo tồn, sinh kế và phát triển kinh tế xã hội tại khu hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh.

khxh2.1

Hình 2 : Quá trình phát triển bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, Hội An [13].

4.2.Mô hình quản lý và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh được mô phỏng theo hình 3, trong đó về mặt quản lý Nhà nước hệ sinh thái rừng được quản lý bởi luật, nghị định và các thông tư, hướng dẫn và quy chế cấp tỉnh, thành phố, điều này tương ứng với quản lý tài sản công cộng trong một hệ sinh thái. Bên cạnh đó một phần rất quan trọng làm nền tảng cho các luận cứ khoa học là sự gắn kết với tư vấn khoa học từ Quốc tế, Việt Nam, tỉnh, thành, địa phương và kiến thức bản địa là sự kết nối với UNESCO, Bộ, Ngành, Cơ quan Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học, Bảo tồn…được trực tiếp và gián tiếp đến hiện trường, cộng đồng. Phần động lực cho sự quản lý bảo vệ, bảo tồn và phát triển lâu bền là nội lực cộng đồng được nghiên cứu liên kết và hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm dưới các hình thức tổ chức hợp tác xã, hoặc theo cơ chế hợp tác chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa các bên liên quan theo tổ chức ban quản lý.

khxh3

Hình 3: Mô hình quản lý và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh [3].

Mô hình kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường nâng cao năng lực cộng đồng, trong đó có quản trị và quản lý sinh quyển nhằm tăng cường tính thích ứng của bảo tồn, và cộng đồng địa phương, theo những chuyển biến và thay đổi mới. Đồng thời khung nhu cầu năng lực của nhân viên ban điều phối bảo tồn và khung xác định vai trò chủ thể của người dân địa phương trong Khu DTSQ cũng được xác định.

4.3. Sinh kế của 10 hộ nông dân vườn rau được cải thiện theo ghi nhận trong thời gian 2018 so sánh năm 2014, 2015, 2016, 2017 đa dạng và gia tăng [11]. Các hộ gia đinh nông dân vườn ra không chỉ có thu nhập qua lượng ra thu hoạch mà còn từ hoạt động du lịch bao gồm thuyết trình viên tại các buổi học, hướng dẫn canh tác, bơi thuyền thúng tại Sông Đò, hướng dẫn tham quan kết nối làng lúa, làng dừa, cũng như cùng gia đình dạy học nấu ăn cho du khách.

4.4. Hệ sinh thái nông nghiệp được bảo vệ, bảo tồn được phản ảnh thông qua diện tích vườn rau được mở rộng đồng thời diện tích vùng đệm với canh tác lúa cũng được áp dụng theo hướng hữu cơ theo các quy định canh tác của vườn rau, và quy định canh tác của vùng đệm. Vườn rau và phương thức canh tác hữu cơ đã và đang chiến lượcphát triển nông nghiệp hữu cơ tại thành phố Hội An, nhằm góp phần quan tâm không những chất lượng sản phẩm hàng hóa mà còn bảo vệ sức khỏe của người nông dân, người tiêu dùng và môi trường hệ sinh thái.

4.5. Hỗ trợ du lịch phát triển nhất là du lịch học tập tại Cẩm Thanh từ số lượng du khách đến tham quan học tập đến kết nối các hoạt động homestay, nhà hàng, quán ăn, quán cà phê, giải khát dịch vụ cho thuê xe đạp và các sinh kế cộng đồng gắn liền. Nhiều sinh kế hộ gia đình tại địa phương Cẩm Thanh cũng như lân cận được gắn kết, bước đầu đã tiếp cận được cách làm, tạo cơ hội khởi nghiệp nhất là các hướng phát triển theo kinh tế xanh, kinh tế bảo tồn.

4.6. Nâng cao nhận thức cộng đồng về giảm thiểu rác thải nhựa như nói không túi nylon, ống hút nhựa, ly nhựa dùng một lần…gắn liền với những ý tưởng mới từ học sinh, sinh viên, giới trẻ, các quầy shop bền vững, các chương trình tự nguyện, tham gia vận động người dân hướng đến một cộng đồng không rác thải, một đại dương không chất thải nhựa tương lai.

4.7. Khái niệm nông nghiệp hữu cơ về sức khỏe người nông dân, sức khỏe cộng đồng, sức khỏe hệ sinh thái được giới thiệu, ứng dụng và hưởng lợi bởi cộng đồng địa phương chung quanh vườn rau, lan rộng từ Cẩm Thanh, đến những làng quê lân cận, và từ Hội An đến các điểm kết nối du lịch học tập như Tam Thanh, Tam Kỳ, Quảng Nam và Hòa Bắc, Đà Nẵng.

4.8. Kết nối sinh thái làng dừa, làng lúa, làng rau tại Cẩm Thanh bước đầu đã và đang tạo nên nhiều cơ hội cho người tham quan và du lịch. Một điều đáng quý là ý nghĩa của các giá trị dịch vụ sinh thái được gắn liền tạo cơ sở cho hoạt động giáo dục sinh thái tại các làng quê này. Nhiều câu chuyện từ cuộc sống của người dân địa phương đượcđúc kết xây dựng tạo nên một sức hấp dẫn mới cho du khách không những về cảnh quan, mà các yếu tố khác về văn hóa, đời sống, lịch sử cũng được lồng ghép.

4.9. Quy hoạch không gian du lịch bền vững với các phân vùng hợp lý vùng lõi, vùng cộng đồng và vùng chuyển tiếp với các đầu tư cho hình thành và phát triển các giá trị dịch vụ phục vụ du khách hưởng thụ các giá trị tự nhiên văn hóa và cộng đồng mang lại.

V. THẢO LUẬN

5.1. Những bài học kinh nghiệm được chia sẻ từ tổ chức cộng đồng, mô hình đồng quản lý.

Các tổ chức cộng đồng như 10 hộ gia đình nông dân vườn rau Thanh Đông, những nhân tố nào làm nên chất lượng hợp tác này tại địa phương. Thực ra tổ hợp này chính là đàn ong và sản phẩm chính là mật của vườn rau là sản phẩm rau không thuốc trừ sâu, không phân bón hóa học! Sản phẩm rau không thuốc trừ sâu, không phân bón hóa học là đại diện của một cam kết giữa người nông dân, chính quyền, nhà khoa học, và doanh nghiệp cho một sức khỏe với một môi trường trong lành, và như người nông dân nói, khỏe mạnh cho người nông dân trồng trọt, khỏe mạnh cho người tiêu thụ và khỏe mạnh cho môi trường và đất đai. Chuyện kể từ các bác nông dân rằng từ ngày thực hiện các nguyên tắc của rau hữu cơ, các bác nhận thấy hăng say lao động hơn, khỏe mạnh hơn, và đồng thời làng quê có rau hữu cơ và vùng đệm là các cánh đồng lúa cũng dần dần theo hướng hữu cơ nên sự thanh bình càng trở nên sâu đậm và quyến luyến hơn, đồng thời có rất nhiều người ngoại quốc về thuê nhà lưu trú trong khu vực chung quanh vườn rau này. Gắn kết vườn rau với ruộng đồng và các đoàn du lịch học tập, một sản phẩm theo tour du lịch sinh thái được hình thành và mang lại nhiều ý tưởng mới.

5.2. Những bài học kinh nghiệm được chia sẻ từ xây dựng chương trình du lịch học tập tại Khu DTSQ.

Hiện nay một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tổ chức học tập cho sinh viên đạt được ngưỡng sáng tạo, sinh viên cần phải được lao động một cách sáng tạo trong lớp hoặc ngoài hiện trường. Muốn vậy sinh viên phải được học trong một môi trường sinh động, ví dụ như tại Khu DTSQ, với những cảnh quan thiên nhiên, con người, văn hóa và cộng đồng một cách kết nối, phụ thuộc, màu sắc, âm thanh…luôn gây sự chú ý của người học, người xem, thưởng thức, hoặc sự tò mò, đặt câu hỏi…Tại Khu DTSQ có nhiều cơ hội đặt sinh viên vào trong các mối tương tác với người dân, với cộng đồng, tìm hiểu các câu chuyện,… Làm thế nào để tăng cơ hội tương tác giữa người tham gia du lịch học tập với người dân địa phương tại hiện trường? Thông thường nhiều cơ hội như sinh viên nghỉ giải lao ăn chè, với việc chọn một quán chè mà người địa phương buôn bán với kinh nghiệm dài như một ví dụ có cô bán chè thâm niên đến 43 năm, hoặc người làm và bán bánh xu sê hơn 30 năm, người bán mì Quảng,…và những câu chuyện để tâm sự. Tìm kiếm người dân có khả năng cung cấp và sẳn sàng chia sẻ thông tin trong Khu DTSQ là cộng việc hàng ngày của người làm công tác nghiên cứu cộng đồng tại đây, sau đó là tìm cách kết nối, xây dựng và phát triển câu chuyện. Câu chuyện về thu mua và xử lý rác thải tái chế (ve chai)ở Cẩm Hà, câu chuyện làm phân compost tại vườn rau Trà Quế, câu chuyện con cua Đá, lá thuốc, rau rừng tại đảo Cù Lao Chàm. Trong phân tích ABCD, một làng quê truyền thống khi được mô tả trên bản đồ tài sản cộng đồng đã và đang thể hiện một mạng lưới kết nối các nguồn lực cộng đồng dày kín, đồng thời các thành phần được liên kết với nhau thành một khung kín, không thành phần nào bị đứng ngoài. Trong bài tập của chiều ngày thứ nhất học tập ABCD tại xã Cẩm Thanh với việc mô tả chi tiết tại 8 thôn cũng đã bắt đầu thể hiện được các yếu tố này.Một câu hỏi đặt ra là làm sao tổ chức được cho sinh viên hiểu và tìm kiếm được cơ hội gặp được người dân cùng nhau thảo luận và mô tả các mối quan hệ này.Trong lúc trình bày về kết quả mô tả mapping, sinh viên có thể chia sẻ kinh nghiệm đi khảo sát theo nhóm ngoài hiện trường với các nhóm khác.Sinh viên cần được phân biệt làm việc nhóm và độc lập, hoặc làm việc có tổ chức, phân chia công việc, hoặc tác nghiệp với cộng đồng, cũng như được giới thiệu và tập làm bản đồ mặt cắt.

5.3. Những bài học kinh nghiệm về xây dựng năng lực cộng đồng, mô hình đồng quản lý tại Khu DTSQ. Một câu chuyện vui nhưng có thật rằng cơ quan quản lý bảo tồn mời các doanh nghiệp hoạt động du lịch trong Khu DTSQ đến ký cam kết thực thi các quy định bảo tồn, tuy nhiên rất ít doanh nghiệp đến tham dự; Câu hỏi đặt ra là liệu doanh nghiệp có hợp tác với bảo tồn?Thực ra lật ngược lại vấn đề là hợp tác để làm gì.Một khi hợp tác là tìm đến một lợi ích trong Khu DTSQ và lợi ích đó là gì? Phải chăng là làm gia tăng giá trị tài sản cá nhân, hay là nhóm hay là công cộng. Nếu một trong 3 hoặc cả ba được gia tăng giá trị thì các thành viên trong khu bảo tồn có thể tham gia.Tuy nhiên, nếu họ nhận thấy không một giá trị nào được gia tăng hoặc có khi còn tốn kém thì họ không tham gia.Vậy thì Khu DTSQ là làm thế nào để kết nối các giá trị đó được gia tăng, chứ không phải là cần sự cam kết của một thành phần nào với sự kết nối đó.Từ nghiên cứu giáo dục cộng đồng, một tiêu chí đặt ra là năng lực cộng đồng phải được nâng cao, do vậy câu hỏi đặt ra là làm thế nào để biết được năng lực cộng đồng ấy được nâng cao, với các thông số nào. Ví dụ trường hợp vườn rau Thanh Đông, một tập thể 10 hộ nông dân tại đây đã và đang cùng nhau hợp tác theo một phương thức canh tác không thuốc trừ sâu và không phân bón hóa học, và họ đã và đang tạo nên một sản phẩm nông nghiệp chất lượng, sạch và thân thiện với môi trường.

VI. KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

6.1. Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch học tập được đặc biệt quan tâm. Ngày nay, khi nói đến du lịch thường người ta hay nghĩ đến cách tiếp cận. Du lịch không còn bó hẹp trong một phạm vi nhỏ, một địa điểm hoặc đơn thuần là một điểm đến. Tất nhiên, điểm đến trước tiên cần phải độc đáo, nhưng không để rồi tất cả những gì mong muốn từ người du lịch cũng đều được bỏ dồn vào đó. Du lịch được kết nối, phát triển theo phạm vi mở rộng liên vùng, và du lịch được gắn kết, chia sẻ với nhiều lợi ích khác nhau. Nếu như trước đây hoặc hiện tại vẫn còn theo suy nghĩ của một số doanh nghiệp mong muốn được tiếp cận xây dựng dự án du lịch tại chính các nơi đã được bảo tồn, bảo vệ như là vùng lõi với cảnh quan rừng tự nhiên, rạn san hô, thảm cỏ biển hoặc một dải rừng ngập mặn, một cồn cát ven sông, cánh đồng lúa hoặc một làng mạc hoặc một bãi biển…thì ngày nay, một quan điểm phát triển du lịch cần và rất cần sự đa dạng của các sản phẩm được gắn liền và được kết nối với nhau, và quan trọng hơn cả là liệu hoạt động du lịch tại khu vực đó có phần hồn hay không. Sự kết nối các sản phẩm du lịch góp phần tạo nên các câu chuyện đặc trưng của các điểm đến đó và dễ dàng đi vào lòng người, tâm hồn của du khách, góp phần tạo nên sự sáng tạo, cái chất, cái tạo mật để du khách mang về theo kỷ niệm và hứa hẹn cho các chuyến viếng thăm tiếp theo [4]. Theo kết quả khảo sát mức độ tham gia của người đi du lịch và môi trường du lịch tại Hội An, Quảng Nam và Lý Sơn, Quảng Ngãi, cũng như Đà Nẵng cho thấy tại các điểm du lịch giải trí, nghỉ dưỡng, phần lớn được cung cấp bởi doanh nghiệp, người đi du lịch chỉ cần biết, hiểu các phương tiện sử dụng là có thể hưởng thụ được các dịch vụ cung cấp du lịch tại các nơi này một cách phù hợp [7]. Tuy nhiên đối với các hoạt động du lịch được cung cấp bởi người dân địa phương thì người đi du lịch cần phải có một “năng lực” hưởng thụ cao hơn hoặc cần phải có một mức độ tham gia cao hơn đó là sự hợp tác tích cực, chủ động hơn thì mới hưởng dụng hết các trải nghiệm, học tập mà môi trường và người dân địa phương ở đó cung cấp. Trong khi đó, các dịch vụ du lịch được cung cấp bởi thiên nhiên và văn hóa với chất lượng nguyên vẹn thì người đi du lịch cần được trang bị nhiều kỹ năng và kiến thức hơn nữa thì mới hưởng thụ được trọn vẹn các giá trị của dịch vụ sinh thái và văn hóa cung cấp, thông thường các hình thức dịch vụ du lịch này là nghiên cứu, khám phá.

6.2. Quy hoạch phân vùng bảo tồn và phát triển du lịch bền vững tại Khu DTSQ. Nếu như từ những ngày đầu làm bảo tồn tại vùng đệm Khu DTSQ, du lịch chỉ là một con số rất bé, thì ngày nay du lịch đã và đang đạt đến con số hơn triệu du khách viếng thăm, một con số không nhỏ đối làng quê này [3], [11]. Du lịch đến với cộng đồng, giờ đây không chỉ được nghe, biết, hiểu các câu chuyện về đảo, về biển về con người và cuộc sống ở đây, mà du lịch còn mong muốn được trải nghiệm, được học tập và cao hơn nữa là được sáng tạo, tìm tòi điều mới lạ mang về làm quà không chỉ cho mình mà cho cả người thân ở nhà. Chính vì vậy, đã đến lúc người dân địa phương cần được nâng cao năng lực giao tiếp, ứng xử không chỉ với thiên nhiên, văn hóa, cộng động mà còn chính với du khách, người đi du lịch. Người làng quê Cẩm Thanh hiện tại chính là người hướng dẫn viên du lịch nói, truyền đạt, giới thiệu lại cho du khách về những gì mình đã và đang làm để bảo tồn và phát triển, đồng thời cũng chính họ cần phải tổ chức hoạt động cho người du khách học tập, tìm tòi và khám phá ra điều mới lạ, những câu chuyện mà cộng đồng ở đây gầy dựng nên [8].

khxh4

Hình 4: Tiếp cận quy hoạch không gian phát triển du lịch bền vững [1].

6.3. Đối với du lịch cộng đồng, người đi du lịch như người học, còn hướng dẫn du lịch như là người thầy, môi trường du lịch là trường học. Cũng giống như người đi học, người đi du lịch cần kết quả mang về nhà từ các chuyến du lịch.Các món quà mang về không chỉ là hiện vật mà còn là các kinh nghiệm, cảm xúc, kỷ niệm, câu chuyện, bài học…khi về nhà [1]. Muốn vậy, người đi du lịch cần phải được thưởng thức các sản phẩm du lịch một cách say sưa, với nhiều sáng tạo. Người đi du lịch phải được tham gia, trao đổi, trải nghiệm, học tập và nếu được chính họ cần phải được tham gia khảo sát, nghiên cứu, đánh giá chất lượng du lịch, cũng như toàn bộ môi trường tạo nên hoạt động du lịch tại nơi đó.

khxh5

Hình 5: Du lịch bền vững và các cấu thành tại Khu DTSQ được biểu diễn theo giá trị bằng tiền tích lũy theo tri thức, kỹ năng và thời gian [1].

Trong khi đó người hướng dẫn du lịch cần phải có phương pháp… Người hướng dẫn du lịch cũng giống như người thầy giảng bài trên lớp, tuy nhiên thường tại các điểm du lịch người hướng dẫn viên làm một nhiệm vụ chung là cung cấp thông tin, “thuyết giảng” là phương pháp chính và người du lịch thường chỉ nghe để biết và hiểu các vấn đề. Tại Khu DTSQ ngày nay, người hướng dẫn du lịch thường phải làm nhiều nhiệm vụ, tại đó phần lớn công việc là phải tổ chức cho người đi du lịch tìm hiểu, trải nghiệm, học tập và sáng tạo được cái mới mang về từ chuyến du lịch mình tham gia, bởi lẽ ở đó, tại Khu DTSQ, một hiện thực khách quan đã và đang tạo cơ hội cho người hướng dẫn làm được công việc tổ chức ấy. Tuy nhiên kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, không ai có thể tổ chức tốt các hoạt động du lịch trong Khu DTSQ bằng người dân địa phương ở đó, bởi lẽ chính họ thường “diễn thuyết”, hướng dẫn bằng chính con tim của họ, bằng chính đôi bàn tay khéo léo tài hoa của họ, bằng chính kinh nghiệm mà cả cuộc đời họ gắn bó với quê hương mình tạo nên, bằng chính những vấp ngã và trưởng thành mà họ đã và đang từng trải qua…Đó chính là cuộc sống của người dân địa phương tại Khu DTSQ, đó chính là văn hóa, đó chính là thiên nhiên và đó chính là cộng đồng được gắn kết. Tất cả đã và đang tạo nên phần hồn của du lịch!

6.4. Quản lý Khu DTSQtheo hướng tổng hợp và điều phối

khxh6

 

Hình 6: Khung điều phối hoạt động Khu DTSQ [6].

Kết quả nghiên cứu về quản lý ở Khu DTSQ cho thấy hoạt động điều phối không chỉ đòi hỏi năng lực hiểu biết về các mô hình phát triển bền vững liên quan từ thượng nguồn đến biển khơi mà còn cần kỹ năng làm việc với cộng đồng cũng như trong nghiên cứu thực địa, trong phòng thí nghiệm và kể cả bảo tàng. Đặc biệt cần làm tốt quá trình phân tích, xây dựng chính sách, hỗ trợ tư vấn cho cộng đồng xây dựng chính sách phát triển bảo tồn biển và kinh tế - xã hội địa phương. Mục đích hoạt động của du lịch cộng đồng là cung cấp sản phẩm du lịch và thu lợi nhuận và mục đích này phù hợp với mục tiêu chung của đất nước nếu góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, kinh tế - xã hội của địa phưong, quốc gia một cách bền vững, lấy con người làm trung tâm và phát triển con người [1]. Việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá và tài nguyên con ngửời góp phần phát triển sinh kế, thu nhập cho ngưòi dân địa phương[3]. Tôn trọng, nâng niu, có kế hoạch phát huy trong quá trình bảo tồn những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể làm nền tảng trong hình thành nhân cách của cư dân, của người lao động, đạo đức và văn hoá trong kinh doanh của doanh nhân du lịch [1]. Cụ thể, các hoạt động điều phối trong Khu DTSQ phần lớn tập trung vào hỗ trợ giới thiệu kiến thức, sử dụng kiến thức thông qua kỹ năng và thể hiện hành động. Vì vậy hoạt động giáo dục, truyền thông bảo vệ tài nguyên môi trường là nhiệm vụ hàng đầu của bảo tồn, bên cạnh đó là hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng kiến thức, hiểu biết và thông tin về nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, môi trường cũng như văn hóa xã hội trong và xung quanh Khu DTSQ. Ngoài ra, hoạt động xây dựng và phát triển sinh kế phù hợp với bảo tồn cũng được thiết kế nhằm tạo điều kiện cho người dân địa phương có thể tham gia thể hiện hành động bảo tồn và kinh tế xã hội đi kèm.Hoạt động với sự tham gia đầy đủ các bên liên quan và người dân địa phương nhằm xây dựng công cụ quản lý như kế hoạch và quy chế quản lý Khu DTSQ.

khxh7

Hình 7: Tập hợp, liên kết các nhóm hoạt động cơ bản trong Khu DTSQ [3].

Chi phí của quá trình quản lý tổng hợp Khu DTSQ tập trung vào các nhóm hoạt động truyền thông, giáo dục, nghiên cứu, sinh kế, tuần tra, giám sát, quan hệ quốc tế, tham quan học tập, vệ sinh môi trường, bảo vệ, phục hồi, bảo tàng[6]. Các lợi ích Khu DTSQ mang lại không chỉ là du lịch mà còn là thủy sản, nguồn lợi, giáo dục, nghiên cứu… Tuy nhiên, hiện tại, du lịch là hoạt động chiếm ưu thế tại Khu DTSQ và nguồn thu chính đến từ sự đóng góp của du khách thông qua vé tham quan học tập[4]. Trong tương lai, trên cơ sở áp dụng các tiến bộ từ khoa học và công nghệ, việc tính toán chia sẻ trách nhiệm từ các hoạt động khác trong Khu DTSQ như thủy sản, nguồn lợi, giáo dục, môi trường, sức khỏe sẽ được mở rộng và gia tăng. Quá trình đầu tư xây dựng vùng lõi Khu DTSQ được bắt đầu từ 10/2003 đến 10/2011 với nguồn vốn đầu tư 2,5 triệu đô (tương đương khoảng 50 tỷ đồng) [3] từ chính phủ Đan Mạch và sự hỗ trợ từ các cơ quan liên quan của Việt Nam. Từ năm 2011, hoạt động du lịch đã bắt đầu có sự đóng góp trở lại cho Khu DTSQ thông qua vé tham quan.Trong những năm gần đây, vé tham quan vùng lõi Khu DTSQ đã được chấp thuận ở mức 70.000 đồng/người và vùng đệm 30.000 đồng/người. Số lượng du khách trung bình khoảng 500.000 lượt khách/năm tại vùng lõi và 700.000 lượt khách/năm tại vùng đệm[8], [2] đã thu được một nguồn kinh phí đáng kể cho việc tái đầu tư trở lại các hệ sinh thái của khu vực.

khxh8

 

Hình 8: Phân tích chi phí và lợi ích quá trình phát triển vùng lõi Khu DTSQ[3].

Nhìn chung, phân tích chi phí và lợi ích từ các khu bảo tồn thế giới cho thấy việc đầu tư ban đầu để đạt được sự đồng thuận cao trong cộng đồng thường kéo dài từ 8 đến 10 năm, đối với vùng lõi Khu DTSQ cũng vậy, thời gian đầu tư được tính từ những ngày đầu cho đến khi được đồng thuận cao và nguồn thu từ du lịch một cách đáng kể được tính tổng cộng đến hơn 11 năm [5]. Việc xây dựng và hoàn thiện các kỹ năng điều phối từ việc tiếp nhận kiến thức đến thành thạo sử dụng và thể hiện được hành động được tính toán tổng từ 8 đến 10 năm, tuy nhiên các khu bảo tồn khác ngày nay, có thể rút ngắn được quãng thời gian này theo tiếp cận kinh nghiệm điều phối Khu DTSQ. Dự báo thời gian đạt được sự đồng thuận bảo tồn, nếu bắt đầu từ kinh nghiệm Khu DTSQ sẽ được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm [3].Câu hỏi đặt ra là tại sao, nếu học tập kinh nghiệm Khu DTSQ thì thời gian đồng thuận cho bảo tồn được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm. Thực ra trong quá trình xây dựng và phát triển vùng lõi Khu DTSQ, thời gian tìm kiếm, nghiên cứu cho các phương pháp tiếp cận, giáo dục, truyền thông cộng đồng rất dài, chiếm hơn 1/3 đến 1/2 tổng số thời gian đạt được đồng thuận cao tại đây [6]. Vì vậy, học tập Khu DTSQ là học tập các phương pháp tiếp cận, các kỹ năng từ thực tiễn trong công tác cộng đồng.Đồng thời Khu DTSQ đã và đang là hiện trường lớn cho việc đào tạo các nguồn lực này đến các khu bảo tồn mới tại địa phương và khu vực. Một vài khu bảo tồn mới như Khu Bảo tồn Đảo Bé, Lý Sơn, Quảng Ngãi cũng đang trong quá trình tiếp cận theo hướng Khu DTSQ [7].

khxh10

 

Hình 9: Phân tích chuỗi thời gian xây dựng năng lực điều phối quản lý [3].

VII. KẾT LUẬN

Du lịch học tập tại làng quê Cẩm Thanh, nói riêng và tại Khu DTSQ nói chung đã và đang ngày được hình thành và lan rộng trong toàn thành phố, nhằm liên kết các yếu tố thành phần trong du lịch, tạo thành một sản phẩm mới mang tính tổng hợp tại địa phương, vừa góp phần nâng cao giá trị hoạt động du lịch thông qua một sản phẩm mới, vừa tạo không gia gắn kết nhằm duy trì và phát huy các giá trị bảo tồn, truyền thống, văn hóa, cộng đồng, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, vừa thúc đẩy các ý tưởng sáng tạo, tiếp cận với văn minh và phát triển bền vững. Du lịch được thỏa mãn với các nhu cầu cơ bản, cấp thiết và nảy sinh của du khách từ cách tiếp cận không những các yếu tố thành phần mà còn mở rộng kết nối phạm vi quốc gia và quốc tế, xứng tầm với một khu dự trữ sinh quyển thế giới. Du lịch học tập tại Khu DTSQ đã bước đầu khẳng định vị trí của mình tại địa phương thông qua các hoạt động xây dựng, tổ chức, duy trì kết nối và lan tỏa, đồng thời qua du lịch Học tập cũng là một công cụ để tiếp cận phát triển bền vững hơn trong tương lai. Vì vậy, những bài học kinh nghiệm từ du lịch học tập cần được quan tâm nghiên cứu và đúc kết, nhằm tăng cường hỗ trợ cho quá trình cải thiện chính sách phát triển lâu bền.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bùi Đức Hùng, Chu Mạnh Trinh, Trịnh Thị Thu (2018), “Phát triển du lịch bền vững dựa vào người dân địa phương; Nghiên cứu trường hợp: Bảo tồn cua Đá (Gecarcoidea lalandii) Cù Lao Chàm – Hội An”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế lần thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững ở Miền trung Việt Nam và ASEAN, trang 447 – 459, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, ISBN: 978-604-956-319-5, 5/2018.

[2] Báo cáo kết quả các dự án GEF – SGP tại Hội An;(VNM/ICCA-GSI/2017/3).

[3] Chu Mạnh Trinh, Bùi Đức Hùng, Trịnh Thị Thu (2018), “Giải pháp tài chính bền vững cho khu bảo tồn biển từ phát triển du lịch – Mô hình ở Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế lần thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững ở Miền trung Việt Nam và ASEAN, trang 601 – 619, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, ISBN: 978-604-956-319-5, 5/2018.

[4] Chu Mạnh Trinh (2013). Du lịch sinh thái Cù Lao Chàm – Hội An, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Số 6-7 (104-105).2013. Tr. 17-27.

[5] Chu Mạnh Trinh (2011), Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển T11 (2011), 2, tr.79-95.

[6] Chu Mạnh Trinh (2014), “Building Resilience in Hoi An city, Viet Nam through the Cham Islands Marine Protected Area (Chapter 17 – Viet Nam. P.149)”, Safe Havens: Protected Areas for Disaster Risk Reduction and Climate Change Adaptation. Gland, Switzerland: IUCN. xii + 168 pp , (Murti, R. and Buyck, C. (ed.) (2014).

[7] Chu Mạnh Trinh (2017), Du lịch Lý Sơn, Quảng Ngãi - Tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam, Trang Thông tin Điện tử (www.culaochammpa.com.vn).

[8] Chu Mạnh Trinh (2016), Ứng dụng luận điểm 4 cột trụ giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; Nghiên cứu trường hợp điển hình về hoạt động môi trường của sinh viên Đại học Quảng Nam cùng cộng đồng ở Hội An, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Quảng Nam, ISSN 0866-7586. Số 08/2016.

[9] Cộng đồng tham gia phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững cua đá Cù Lao Chàm (VN/SGP/UNEP-SCS/09/01) ;

[10] Dự án tăng cường năng lực quản lý môi trường cho thành phố Hội An (VN/06/003);

[11] Hoạt động của Vườn rau hữu cơ Thanh Đông trong giai đoạn từ năm 2015, 2016, 2017, 2018; (Tổ Cộng đồng Vườn rau hữu cơ Thanh Đông, Cẩm Thanh).

[12] Lịch sử hình thành vườn rau Thanh Đông, 2014; (Tổ Cộng đồng Vườn rau hữu cơ Thanh Đông, Cẩm Thanh).

[13] Phục hồi và bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh phục vụ du lịch sinh thái và phát triển bền vững (VN/SGP/UNEP-SCS/09/02);

[14] Thêm một tuyến du lịch sinh thái tại Cẩm Thanh, Đài Truyền thanh - Truyền hình, Hội An, http://www.hoianworldheritage.org.vn/vi/news/Du-lich-Hoi-An/them-mot-tuyen-du-lich-sinh-thai-tai-cam-thanh-1711.hwh

[15] Tour thử nghiệm được hình thành kết nối vườn rau Thanh Đông với du lịch(VNM/ICCA-GSI/2017/3);

[16] Xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An (VN/SGP/0P4/Y3/CORE/10/07);

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

khxh11

khxh12

khxh13

khxh15

Hình h: Người nông dân tham gia giảng bài về sinh thái nông nghiệp tại vườn rau hữu cơ Thanh Đông, Cẩm Thanh

 

 

 

Đồng quản lý, công cụ hỗ trợ hài hòa các mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội tại Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An.

PDF.InEmail

Thứ sáu, 06 Tháng 12 2019 08:55 Số truy cập:721

Đặt vấn đề

Đồng quản lý là phương thức hiện tại được tiếp cận trong quản lý tài sản chung như một hệ sinh thái, tài nguyên, môi trường, tuy nhiên thông thường đi liền với các tài sản chung ấy là các cộng đồng người lao động hoặc là sinh kế thường ngày hoặc là các liên quan khác như quản lý, bảo vệ, bảo tồn. Trong hiện trạng ấy, các phân tích được tiếp cận theo hướng tài sản thường gồm 3 nhóm chính là tài sản cá nhân, tài sản nhóm và tài sản công cộng, được gộp chung thành tài sản cộng đồng. Một số mô hình đồng quản lý nặng về quản lý nhà nước tức là trên cơ sở hoàn toàn tài sản công cộng, cái khác thì nặng về tài sản cá nhân thường gặp ở các quản lý doanh nghiệp, còn số khác thì quan tâm đến tài sản nhóm, hợp tác, nhưng chỉ dừng lại phần lợi ích và trách nhiệm chung.Tìm hiểu một mô hình hài hòa các mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội là một nhu cầu cấp thiết hiện nay và trong thời gian đến. Mô hình đồng quản lý lại bước lên một giai đoạn phát triển mới, một hợp tác giữa các thành phần liên quan cần được xây dựng, năng lực cộng đồng cần được cũng cố và tăng cường, kinh tế chất lượng cần được giới thiệu, quản lý hệ thống cần được áp dụng, cần được nhân rộng và tạo điều kiện để các địa phương mới trong vùng, các cơ sở đào tạo, các khu bảo tồn học tâp.

Tổng quan

Câu chuyện được đúc kết từ quá trình xây dựng và phát triển khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, một thời gian dài chuyển tiếp từ hoạt động sử dụng tài nguyên và môi trường tại địa phương; tiếp cận với thực tiễn khai thác và sử dụng vào những 1990 và 2000, nguồn lợi tài nguyên và môi trường bị hạn chế dần do tốc độ khai thác, đi lên kèm với nhu cầu, trong những vùng gần bờ, cửa sông và ao hồ. Sự tổn thương ấy được nhận ra rằng, việc khai thác và sử dụng không hợp lý với chức năng và dịch vụ của hệ sinh thái, vì vậy, một sự điều chính bằng cách áp dụng nguyên tắc quản lý khu bảo tồn biển, có nghĩa là khai thác theo mùa, theo vùng, và theo kích thước. Từ đó đi kèm với kiểm soát các ngư lưới cụ, ô nhiễm môi trường. Một số các hoạt động khai thác phù hợp được nghiên cứu áp dụng đồng thời các hình thức kinh tế mới cũng được tăng cường nghiên cứu ứng dụng, và kinh tế du lịch ra đời. Để tiếp quản với nhận thức cũng như kỹ năng mới, sự tiếp nhận tri thức, công nghệ, khoa học kỹ thuật được tăng cường cho cộng đồng người dân địa phương, nhằm nâng cao năng lực, giúp người lao động trực tiếp có thể tiếp nhận quản lý và phát huy tốt giá trị của các hệ sinh thái. Phương thức đồng quản lý được áp dụng nhằm hài hòa lợi ích và trách nhiệm giữa nhà nước, cộng đồng người dân địa phương và nhà khoa học ra đời, đáp ứng được tiến độ phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở bảo tồn nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Song cùng với bảo tồn tài nguyên và môi trường, nhiều di sản văn hóa cũng như thiên nhiên được công nhận, du lịch phát triển, sinh kế người dân được dần cải thiện, tuy nhiên cũng chính theo thời gian dần trôi, kinh tế phát triển, tư bản được tích lũy, nhiều doanh nghiệp ra đời theo nhu cầu được đầu tư, và quản lý hiệu quả. Sự tiếp nhận doanh nghiệp hay nói cách khác là hướng tới một sự phát triển nhanh, mạnh, nhưng bền vững đôi lúc đôi nơi chưa được tương xứng. Sự tổn thương đến sức khỏe hệ sinh thái, tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng nhiều, đã và đang mang đến nhiều áp lực, thách thức mới cho phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy nghiên cứu tập trung vào các bài học kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về ứng xử giữa con người với thiên nhiên mà cụ thể là giữa bảo tồn và sinh kế của người dân địa phương và phát triển kinh tế xã hội, đúc kết các mô hình đồng quản lý cũng như các kiến nghị phát triển chính sách về đồng quản lý là cần thiết. Nghiên cứu được triển khai theo hướng (1) Tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực địa phương ABCD (asset based community development); phân tích hiện trạng quản lý di sản theo khung dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, đáp ứng DPSIR (drivers, pressures, state, impact, responses); nguyên tắc cụ thể, lượng hóa, khả thi, hợp lý, thời gian SMART (specific, measurable, attainable, reasonable, time), phân tích mặt mạnh, yếu, cơ hội và thách thức SWOT (strengths, weaknesses, opporntunities, threats) được sử dụng; (2) Kế thừa nguồn tài liệu thứ cấp, và làm việc nhóm; (3) Thực địa theo tour với phỏng vấn, quan sát, ghi chép, thảo luận, trình bày theo học cụ giấy A0, bút màu, ghi âm, ghi hình; (4) Tham quan học tập các khu bảo tồn, bảo vệ, phát triển cộng đồng và du lịch quốc gia và quốc tế; và (5) Hội thảo.

Mục tiêu

(1) Đúc kết các bài học về đồng quản lý trong và ngoài nước thông qua tham quan học tập tại các khu bảo tồn, bảo vệ và phát triển cộng đồng.

(2) Cập nhật mô hình điểm về đồng quản lý hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái vùng cửa sông, và quản lý rác thải sinh hoạt theo hướng không rác thải đại đương với trường hợp nghiên cứu Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (DTSQ).

(3) Khuyến nghị phát triển chính sách về đồng quản lý tài nguyên môi trường.

Kết quả đạt được

(1) Đối với tài sản cộng đồng trong đó có tài sản cá nhân, tài sản nhóm, tài sản công cộng, quản lý theo phương thức cộng đồng hay là đồng quản lý luôn luôn là một nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên tùy theo năng lực cộng đồng tiếp nhận theo thời gian mà phương thức đồng quản lý đó chuyển dần từ Nhà nước, tư nhân hoặc theo hướng hợp tác, với cơ chế phân chia lợi ích, trách nhiệm được rõ ràng và hướng đến công bằng.

(2) Hướng cập nhật đồng quản lý cho đối tượng được cộng đồng xác định là trách nhiệm và lợi ích chung cần được tiếp cận theo hướng quản lý tổng hợp / trường hợp nghiên cứu đồng quản lý rác thải sinh hoạt theo hướng không rác thải nhựa đại dương với mô hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.

(3) Hướng cập nhật đồng quản lý theo mô hình hợp tác và nâng cao năng lực cộng đồng nhằm mở rộng phạm vi và liên kết hệ sinh thái / trường hợp nghiên cứu đồng quản lý hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, vùng cửa sông Thu Bồn, Hội An.

(4) Hướng cập nhật đồng quản lý theo mô hình tiểu khu bảo tồn biển, một mô hình đồng quản lý được chủ động chia sẻ từ nhà quản lý trong tuần tra, giám sát chất lượng hệ sinh thái rạn san hô đến sinh kế cộng đồng cần gắn kết nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương / trường hợp nghiên cứu Đồng quản lý hệ sinh thái biển đảo Cù Lao Chàm.

(5) Các khuyến nghị chính sách về quy hoạch phân vùng chức năng sử dụng tài nguyên môi trường, năng lực tham gia của cộng đồng, cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm, quản lý tổng hợp và hoạt động điều phối.

(6) Hiệu quả mang lại theo tiếp cận đồng quản lý về kinh tế, xã hội, môi trường với các ví dụ từ hệ sinh thái biển Cù Lao Chàm, hệ sinh thái rừng ngập mặn và vùng cửa sông Thu Bồn, Hội An và quản lý rác thải sinh thải tại Khu DTSQ.

Bài học kinh nghiệm

1) Đồng quản lý là công cụ hài hòa được các mối quan hệ bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội.

Mô hình tổng hợp đáp ứng được các nhu cầu phát triển của kinh tế xanh trên nền tảng bảo tồn và cải thiện sinh kế tại địa phương được hình thành. Mô hình tổng thể được đúc kết và được mô phỏng theo hình 1&2, trong đó về mặt quản lý Nhà nước hệ sinh thái biển và ven bờ được quản lý bởi luật, nghị định và các thông tư, hướng dẫn và quy chế cấp tỉnh, thành phố, điều này tương ứng với quản lý tài sản công cộng trong một hệ sinh thái. Bên cạnh đó một phần rất quan trọng là sự gắn kết với tư vấn khoa học từ Quốc tế, Việt Nam, tỉnh, thành, địa phương và kiến thức bản địa là sự kết nối với UNESCO, Bộ, Ngành, Cơ quan Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học, Bảo tồn được trực tiếp và gián tiếp đến hiện trường, cộng đồng. Phần động lực cho sự quản lý bảo vệ, bảo tồn và phát triển lâu bền là nội lực cộng đồng được nghiên cứu liên kết và hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm dưới các hình thức tổ chức hợp tác xã, hoặc theo cơ chế hợp tác chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa các bên liên quan theo tổ chức ban quản lý.

a. Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) tại xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam

hinh 1- khxh

Hình 1: Mô hình nghiên cứu tổng thể giao quyền quản lý hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh[3].

b. Mô hình đồng quản lý và phục hồi rạn san hô với sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp tại Khu Bảo tồn Biển Cù Lao Chàm.

hinh 2- khxh

Hình 2: Mô hình nghiên cứu tổng thể đồng quản lý hệ sinh thái rạn san hô tại Bãi Hương[3]

Mô hình mở ra một khái niệm mới giúp cho khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An đón nhận được thách thức mới từ nhu cầu gia tăng du lịch tại địa phương và đề nghị kết nối tuyến du lịch giữa Đà Nẵng và Cù Lao Chàm, Hội An, trên cơ sở tiếp cận hệ thống. Mô hình kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường nâng cao năng lực cộng đồng, trong đó có quản trị và quản lý bảo tồn biển và sinh quyển nhằm tăng cường tính thích ứng của bảo tồn, và cộng đồng địa phương, theo những chuyển biến và thay đổi mới. Khung nhu cầu năng lực của nhân viên ban điều phối bảo tồn và khung xác định vai trò chủ thể của người dân địa phương trong khu bảo tồn và sinh quyển.Mô hình được xây dựng đảm bảo được huy động được nguồn lực địa phương trên cơ sở tài sản cộng đồng, tranh thủ hỗ trợ quốc tế, kết nối được đầu tư bên ngoài một cách hợp lý và hiệu quả.

Quá trình đầu tư xây dựng vùng lõi Khu DTSQ được bắt đầu từ 10/2003 đến 10/2011 với nguồn vốn đầu tư 2,5 triệu đô (tương đương khoảng 50 tỷ đồng) [6] từ chính phủ Đan Mạch và sự hỗ trợ từ các cơ quan liên quan của Việt Nam. Từ năm 2011, hoạt động du lịch đã bắt đầu có sự đóng góp trở lại cho Khu DTSQ thông qua vé tham quan.Trong những năm gần đây, vé tham quan vùng lõi Khu DTSQ đã được chấp thuận ở mức 70.000 đồng/người và vùng đệm 30.000 đồng/người. Số lượng du khách trung bình khoảng 500.000 lượt khách/năm tại vùng lõi và 700.000 lượt khách/năm tại vùng đệm [8], [1] đã thu được một nguồn kinh phí đáng kể cho việc tái đầu tư trở lại các hệ sinh thái của khu vực.

 

hinh 3- khxh

Hình 3: Phân tích chi phí và lợi ích quá trình phát triển vùng lõi Khu DTSQ[6]. 

Nhìn chung, phân tích chi phí và lợi ích từ các khu bảo tồn thế giới cho thấy việc đầu tư ban đầu để đạt được sự đồng thuận cao trong cộng đồng thường kéo dài từ 8 đến 10 năm, đối với vùng lõi Khu DTSQ cũng vậy, thời gian đầu tư được tính từ những ngày đầu cho đến khi được đồng thuận cao và nguồn thu từ du lịch một cách đáng kể được tính tổng cộng đến hơn 11 năm [7]. Việc xây dựng và hoàn thiện các kỹ năng điều phối từ việc tiếp nhận kiến thức đến thành thạo sử dụng và thể hiện được hành động được tính toán tổng từ 8 đến 10 năm, tuy nhiên các khu bảo tồn khác ngày nay, có thể rút ngắn được quãng thời gian này theo tiếp cận kinh nghiệm điều phối Khu DTSQ.

Dự báo thời gian đạt được sự đồng thuận bảo tồn, nếu bắt đầu từ kinh nghiệm Khu DTSQ sẽ được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm [6].Câu hỏi đặt ra là tại sao, nếu học tập kinh nghiệm Khu DTSQ thì thời gian đồng thuận cho bảo tồn được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm. Thực ra trong quá trình xây dựng và phát triển vùng lõi Khu DTSQ, thời gian tìm kiếm, nghiên cứu cho các phương pháp tiếp cận, giáo dục, truyền thông cộng đồng rất dài, chiếm hơn 1/3 đến 1/2 tổng số thời gian đạt được đồng thuận cao tại đây [9]. Vì vậy, học tập Khu DTSQ là học tập các phương pháp tiếp cận, các kỹ năng từ thực tiễn trong công tác cộng đồng.Đồng thời Khu DTSQ đã và đang là hiện trường lớn cho việc đào tạo các nguồn lực này đến các khu bảo tồn mới tại địa phương và khu vực. Một vài khu bảo tồn mới như Khu Bảo tồn Đảo Bé, Lý Sơn, Quảng Ngãi cũng đang trong quá trình tiếp cận theo hướng Khu DTSQ [10].

hinh 4- khxh

 

Hình 4: Phân tích chuỗi thời gian xây dựng năng lực điều phối quản lý [6].

2) Đồng quản lý hỗ trợ nâng cao năng lực cộng đồng - Mô hình du lịch học tập tại Cẩm Thanh và Bãi Hương Cù Lao Chàm

Các liên kết nghiên cứu, đào tạo và hình thành các tour học tập tại Khu DTSQ là những hoạt động thực tiễn rất thiết thực nhằm một mặt hoàn thành được nhiệm vụ với chức năng là đóng góp chia sẻ trách nhiệm giáo dục, mặt khác hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm từ cộng đồng sinh sống trong và chung quanh khu bảo tồn. Một số nơi, Khu DTSQ đã và đang trở thành một đại học không giảng đường cùng liên kết với các cơ sở giáo dục đào tạo trong và ngoài nước phục vụ giáo dục đào tạo thế hệ tương lai về bảo tồn và phát triển.Ngoài ra các Khu DTSQ còn là môi trường học tập sinh động nhằm tạo mẫu cho các địa phương khác tiếp cận và xây dựng phát triển bảo tồn của mình. Các tour tham quan học tập từ cộng đồng Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, từ đại học trong nước và quốc tế được thống kê phân loại theo thời gian nghiên cứu, nội dung học tập, cũng như các ứng dụng.Mô hình được xây dựng tạo tiền đề đóng góp vào giáo dục cộng đồng, nâng cao năng lực của người dân địa phương và kết nối với hệ thống đào tạo, nghiên cứu khoa học chung nhằm nâng cao chất lượng bảo tồn, dịch vụ sinh thái, và sản phẩm dịch vụ, phục vụ cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Du lịch học tập bước đầu đến từ các nhóm sinh viên, tình nguyện viên nghiên cứu, trong và ngoài nước dần đến các lớp học được tổ chức rộng rãi cho cộng đồng người dân tại địa phương và khắp nơi, chỉ tính trong năm qua và 5 tháng đầu năm 2019, có hàng chục đoàn công tác đến du lịch học tập tại Cẩm Thanh, Hội An và các vùng phụ cận với khoảng 1.000 người, thêm vào đó cũng khoảng hơn 1.200 sinh viên từ các trường đại học Việt Nam và Quốc tế và hàng ngàn du khách thường xuyên từ các công ty lữ hành [11], [12]. Năm 2018, tổng thu 786.000.000 đồng, trong đó từ rau: 456.000.000 đồng, còn lại là du lịch bao gồm tham quan, học tập và thuyền thúng. Năm tháng đầu năm 2019, tổng thu 458.000.000 đồng, trong đó từ rau: 320.000.000 đồng, còn lại là du lịch bao gồm tham quan, học tập và thuyền thúng [4].

hinh 5- khxh

Hình 5: Trung tâm du lịch học tập tại Cẩm Thanh [3]

Những giá trị cộng đồng của hệ sinh thái rừng dừa nước này bao gồm giá trị tài sản cá nhân ví dụ như cây dừa nước, giá trị tài sản nhóm như nhóm đánh bắt thủy sản trong vùng cửa sông, rớ, lưới, lờ, nhóm thủ công mỹ nghệ, các nhóm này hoạt động theo một quy ước chung của nhóm nhằm duy trì sinh kế của mình, hoặc giá trị tài sản công cộng bao gồm giá trị cảnh quan, lịch sử, văn hóa, bãi giống, bãi đẻ, đất vùng triều. Những giá trị này được sử dụng chung bởi mọi người và thống nhất được Nhà nước quản lý. Vì vậy đại diện gốc gác của giá trị cộng đồng được thể hiện bởi 3 nhóm các bên liên quan bao gồm: BQL du lịch (đại diện tài sản công cộng – Nhà nước quản lý); nhóm người trồng cây dừa (đại diện tài sản cá nhân – Sở hữu cá nhân); nhóm đánh bắt cá trong vùng cửa sông (đại diện tài sản nhóm – Sở hữu nhóm). Ba nhóm các bên liên quan này đều có những lợi ích hài hòa và mong muốn lâu bền ở rừng dừa nước, ví dụ:

Nhóm BQL Du lịch Cẩm Thanh được thành lập theo quyết định của UBND Thành Phố có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan, cộng đồng thực thi các quy định của Nhà nước trong quản lý hoạt động du lịch tại rừng dừa, và các trách nhiệm khác liên quan. BQL Du lịch Cẩm Thanh phụ trách hoạt động thu vé tham quan du lịch trong rừng dừa nước Cẩm Thanh. Như vậy liên quan đến sức khỏe hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, hay nói đúng hơn liên quan tài sản công cộng trong rừng dừa nước Cẩm Thanh, BQL Du lịch Cẩm Thanh hoàn toàn đủ chức năng và trách nhiệm quản lý.

Nhóm người trồng cây dừa nước Cẩm Thanh với cây dừa nước là tài sản cá nhân thuộc về lợi tức của những người trồng dừa này. Người trồng cây dừa nước hiện tại khai thác lá dừa hàng năm và theo mùa vụ, phù hợp với hiểu biết về cây dừa được nhóm những người này tích lũy và sự dụng. Tuy nhiên, nếu một ai trong số người của nhóm này chặt hết các cây dừa mà họ trồng cũng đồng nghĩa là người đó phải rời bỏ khỏi nhóm.Vì vậy, mọi người trong nhóm người trồng dừa này đều mong muốn gìn giữ, nuôi dưỡng cây dừa được tốt tươi, để hưởng lợi lâu dài.

hinh 6- khxh

 

Hình 6: Mô hình phân tích hợp tác quản lý nguồn lợi trong hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh

Nhóm người khai thác thủy sản trong rừng dừa nước Cẩm Thanh với nguồn lợi thủy sản trong rừng dừa nước Cẩm Thanh là tải sản chung đang được người dân sử dụng bao đời, theo các phương thức khai thác truyền thống để hưởng lợi lâu bền. Tuy nhiên, mối quan hệ ứng xử giữa người khai thác và nguồn lợi tự nhiên ấy ngày nay thỉnh thoảng thường bị tổn thương do sự mất cân bằng giữa chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan khác nhau. Trong tương lai, nếu ứng xử giữa sử dụng và bảo vệ, bảo tồn không được hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau thì nguy cơ tổn thương sức khỏe hệ sinh thái rừng dừa nước sẽ lớn dần và sẽ suy sụp. Vì vậy, ba nhóm các bên liên quan cơ bản và quan trọng này trong rừng dừa nước Cẩm Thành cần phải cùng ngồi lại với nhau, cùng nhau đối thoại, hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm để quản lý tốt các giá trị tài nguyên.

3) Rác thải sinh hoạt cần được quản lý tổng hợp theo cách tiếp cận đồng quản lý

Rác thải hàng ngày vẫn được sản sinh, ngày một gia tăng, vì số người phát thải, vì thành phần, vì nhu cầu sử dụng hàng hóa, thực thẩm, bao bì! Vì vậy, bao giờ chúng ta mới có thể có được một sự đồng hành về quản lý rác thải tại cộng đồng. Làm thế nào mỗi sáng ra hoặc mỗi chiều về, người điều hành có thể có được một bức tranh tổng hợp, hôm nay, cộng đồng, hay thành phố này có bao bao nhiêu lượng rác thải được hình thành, thành phần nó là gì, rác thải đến từ đâu và đang đi đâu trên con đường đi của chúng?

Hội An đã và đang có một quá trình tiếp cận với quản lý rác thải một cách hệ thống rất quý giá được ghi lại từ những năm 2000 đến nay. Năm 2002 Hội An bắt đầu phân loại rác tại nguồn với chi tiết bao gồm rác dễ phân hủy sinh học, rác khó phân hủy sinh học và rác tái chế. Sáng kiến này được bắt đầu từ phường Minh An, những ngày đầu thực hiện sáng kiến, người dân và công ty công trình công cộng đã rất nhiệt tình tham gia, tuy nhiên sau đó, rác phân loại được phát hiện không tiếp tục tách riêng khi đến bãi rác mà cùng đổ chung lại với nhau, và từ đó người dân không chịu phân loại nữa. Đến năm 2006, Hội An, triển khai phân loại rác tại nguồn lần thứ 2 tại 4 phường nội thị (Minh An, Tân An, Sơn Phong, Cẩm Phô). Rác thải hộ gia đình vẫn được kêu gọi phân loại tại nguồn với 3 thành phần chính bao gồm rác thải tái chế, rác phân hủy sinh học.và rác không phân hủy sinh học. Các lớp tập huấn phân loại rác tại nguồn được tổ chức đồng thời các kết nối hỗ trợ được tập hợp từ dự án nhỏ GEF SGP cho mục tiêu lâu dài là nâng cao năng lực quản lý môi trường đô thị cổ Hội An theo các hướng giảm thiểu áp lực từ nước thải sinh hoạt, rác thải sinh hoạt, thông qua các nhóm hoạt động vận động xây dựng mô hình xử lý nước thải tại các nhà hàng khách sạn tại 2 phường Minh An, Cẩm Phô, mô hình tổ chức thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại xã Cẩm Thanh và xây dựng quy chế quản lý môi trường tại đô thị cổ Hội An. Song song với dự án GEF SGP (2006-2009) là đóng góp từ dự án xây dựng khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm về tổ chức phân loại, thu gom, xử lý rác thải hộ gia đình tại xã đảo Tân Hiệp. Tiếp nối các kết quả này, một nỗ lực mới đến với Hội An là dự án môi trường về xây dựng nhà máy phân compost, và nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt của thành phố (2006-2016). Đồng thời mô hình 3 R từ thành phố Naha (Okinawa) Nhật Bản (2008-2018) và pha 2 của dự án GEF – SGP (2010-2013) hỗ trợ xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải cũng được giới thiệu và triển khai, liên tục gắn kết Hội An vào hành động bảo vệ môi trường. 2017 tiếp cận với zero waste, các phong trào cộng đồng về bảo vệ môi trường như tổ chức thu gom rác thải trên các dòng sông tại Hội An, thu gom pin, mô hình làng quất không thuốc trừ sâu, phong trào thu gom rác thải bãi biển An Bàng, hoặc dự án thành phố sinh thái (Eco City) của nhóm tình nguyện viên quốc tế được ghi nhận. Gần đây 2018, dự án về đóng cửa bãi rác Hội An và xử lý khí bãi rác cũng như nâng cao năng lực phân loại rác tại nguồn và làm phân compost hộ gia đình (xã Cẩm Nam), và xúc tiến xây dựng kế hoạch quản lý rác thải thành phố Hội An (Dự án Canada) chuẩn bị khởi động; kèm theo đó là dự án zero waste từ Gaia đến Hội An về tiếp cận nâng cao năng lực của cộng đồng về giảm thiểu rác thải và đặc biệt là rác thải nhựa nguy cơ đến ô nhiễm đại dương; và một dự án nhỏ nữa từ Environmental Pacific là hỗ trợ tiếp cận cộng đồng Cù Lao Chàm đến với zero waste với các hoạt động MRF (mô hình tuần hoàn vật chất) bao gồm các công đoạn phân loại rác thải tái chế, làm phân compost, thu gom phân loại rác thải tại nguồn trên quy mô cộng đồng dân cư, trường học, làng quê với mong muốn áp dụng tại trường học và tại Bãi Hương. Cù Lao Chàm, và tương tự tại Cẩm Thanh cũng sẽ phối hợp với địa phương xây dựng một MRF thí điểm cùng kết hợp với tập huấn nâng cao năng lực như kiểm toán chất thải. Như vậy, với cách tiếp cận thực tế, phỏng vấn cộng đồng, chính quyền xã, hội phụ nữ về câu chuyện quản lý rác thải tại địa phương, và các cơ quan liên quan, câu chuyện về quản lý rác thải sinh hoạt tại Hội An được trình bày, nhằm mục đích giới thiệu đến người đọc cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như các áp dụng kết nối và đặc biệt các hướng đến tương lai nhằm góp phần giảm thiểu và không rác thải nhựa đại dương được đề cập.

Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt (ĐQL) theo phương thức phân loại rác tại nguồn (PLRTN) được thiết kế trên cơ sở khoa học về ĐQL, con đường đi của rác thải và định hướng chiến lược quản lý rác thải tại thành phố Hội An. Một giả định khoa học đặt ra là định hướng đó chỉ rõ rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt bao gồm rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Sau đó 3 loại rác thải sinh hoạt được thu gom và chuyển đến các điểm cuối cùng theo đúng quy định. Rác thải tái chế sẽ được chuyển đến các cơ sở thu mua phế liệu. Rác thải dễ phân hủy sẽ được chuyển đến nhà máy làm phân compost, hoặc các nơi làm compost hộ gia đình.Rác thải khó phân hủy sẽ được chuyển đến bãi rác Cẩm Hà.

Hoạt động thực tiễn đã chỉ rõ, nếu phân loại rác tại nguồn được tổ chức và duy trì một cách quy củ, thì ít nhất 30% lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày là tài nguyên, đó là rác tái chế. Và cáng đáng công việc này, tại Hội An hiện nay có phần đóng góp lớn của khoảng hơn 110 chị phụ nữ là người thu gom rác tái chế (ve chai) dạo quanh địa bàn thành phố và thu mua phế liệu. Họ là những người phụ nữ sinh sống tại Hội An và tại các làng quê gần thành phố này. Những năm trước đây và hiện nay, Hội LPPN Hội An là hạt nhân gắn kết các chị, thông qua nhiều hoạt động được tổ chức tư vấn cùng với các dự án và chương trình bảo vệ môi trường. Các chị cùng nhau tập hợp lại đi tham quan học tập cách làm mới, hay về thu gom xử lý rác thải tái chế, về trang thiết bị thu gom, về vay vốn tín dụng nhỏ, về sản xuất các vật dụng thay thế, thân thiện môi trường, về hoạt động truyền thông, về phong trào dọn sạch và làm đẹp đường làng, ngỏ xóm, về ngày Thứ Bảy / Chủ Nhật xanh, về xách giỏ đi chợ, về nói không với túi nylon, và gần đây là các sản phẩm nhựa sử dụng một lần. Các chị là một lực lượng mạnh!

Mô hình được thực hiện mang nội dung và hình thức phát triển cộng đồng vì vậy để thuận lợi triển khai các hoạt động của mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN cần phải xúc tiến công tác truyền thông nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng tiếp cận và tham gia các hoạt động của mô hình. Sự tham gia rộng rãi và tích cực của người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học vào mô hình bao giờ cũng tỷ lệ thuận với hiệu quả triển khai hoạt động. Đồng thời mô hình sẽ tạo điều kiện kế thừa một cách có hệ thống và phối kết hợp với các chương trình, dự án có liên quan tại địa phương một cách phù hợp.

Như vậy, theo lý luận thì mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN phải là công cụ giúp Nhà nước tổ chức và điều phối được các hoạt động liên kết giữa các lực lượng bao gồm người dân, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.Sự liên kết của 4 lực lượng này sẽ là nền tảng tạo nguồn lực cơ bản và lâu bền hỗ trợ mạnh mẽ cho quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố đạt được kết quả. Sự liên kết này cần được hỗ trợ để hình thành, phát triển và sau đó chính sự vững mạnh của nó sẽ thúc đẩy sự bền vững sau này và giảm nhẹ gánh nặng mà Nhà nước phải lo toan như hiện tại.

hinh 7- khxh

Hình 7: Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An [5].

Giải thích ý nghĩa của hình 5

hinh 8- khxh

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được bắt đầu từ bước phát sinh đến phân loại rác qua thu gom và điểm đến cuối cùng[15].

“Rác phát sinh”: Rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được ra đời từ 4 nguồn phát sinh chính đó là (1) hộ gia đình, (2) nhà hàng, khách sạn, (3) chợ, trường học, cơ quan, (4) đường phố, nơi công cộng.

“Phân loại rác”: Rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt là rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều nơi, rác thải phát sinh chưa được phân loại. Điều này có nghĩa là 3 loại rác bao gồm rác thải tái chế, rác khó phân hủy, rác dễ phân hủy không được tách biệt thành từng nhóm riêng biệt mà đang bị trộn lẫn nhau.

“Thu gom” là biểu hiện của giai đoạn rác thải được thu gom từ khắp nơi trong thành phố và được đưa về các điểm đến cuối cùng. Thực hiện hoạt động thu gom rác thải hiện nay chủ yếu là 3 lực lượng chính, đó là Công ty Cổ phần Công trình Công cộng của thành phố Hội An (CP CTCT), các Tổ thu gom tự quản và Đội ngũ những người thu mua ve chai của địa phương.

“Điểm đến cuối cùng” là nơi hoặc là không gian mà rác được đưa về tập kết trong thành phố một thời gian dài hoặc được chế biến trước khi chuyển ra ngoài địa bàn thành phố Hội An. “Điểm đến cuối cùng” hiện nay trên con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Hội An là bãi rác Cẩm Hà và các cơ sở thu mua phế liệu. Trong thời gian gần đây, ngoài bãi rác Cẩm Hà, các cơ sở thu mua phế liệu, thành phố Hội An còn đưa vào sử dụng Nhà máy làm phân compost và khái niệm làm phân compost hộ gia đình. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An vẫn còn một lượng đáng kể phát tán không kiểm soát được một cách tự do ngoài môi trường chung quanh như tại các bãi đất “hoang”, sông ngòi, bãi biển. Lượng rác thải sinh hoạt phát tán này thông thường được thu gom thông qua các phong trào dọn vệ sinh, làm sạch bãi biển, dòng sông chung của thành phố và các xã phường.

Lực lượng các chị thu gom ve chai và thu mua phế liệu là nguồn lực chính trong xây dựng và phát triển kinh tế rác thải, kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Đầu ra của hoạt động kinh tế này là những sản phẩm tái chế được sử dụng một cách hợp lý trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời phân compost, một nguồn dinh dưỡng hữu ích cho đất trồng nông lâm nghiệp. Có thể nói rằng nguồn lực công nhân cho 2 hoạt động sản xuất trên là lực lượng người thu gom ve chai và thu mua phế liệu, cũng như là những người nông dân sản xuất phân compost quy mô vườn rau, thôn, xóm. Cộng tác cho 2 hoạt động này là toàn bộ người dân của chúng ta, những người phải phân loại rác thải hàng ngày. Làm thế nào để có được 2 lực lượng này, một là đội ngũ những người thu gom ve chai và thu mua phế liệu, hai là những người nông dân sản xuất và sử dụng phân compost. Phế liệu thường được bán cho nhà máy, xí nghiệp, còn phân compost thì được dùng để bón cho đất cho cây, tuy nhiên nó phải ra tiền để có thể nuôi sống được người nông dân. Một ví dụ tại Vườn rau Thanh Đông, Cẩm Thanh, Hội An là rác thải hữu cơ hộ gia đình được làm phân compost và được gọi là compost hộ gia đình. Compost hộ gia đình sẽ được tham gia vào quy trình sản xuất tạo ra compost vườn rau hữu cơ theo tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đầu vào. Người nông dân vườn rau hữu cơ có đủ kinh nghiệm áp dụng được quy trình này vào sản xuất rau hữu cơ tại vườn rau và đây cũng là một sản phẩm du lịch lý thú khi người nông dân giới thiệu cho du khách.Một ví dụ khác được tìm thấy tại nhà hàng The Field rằng, rác thải dễ phân hủy (rác hữu cơ) được sử dụng làm phân compost với những hướng khác nhau. Rác hữu cơ bao gồm các loại rau, quả được dùng lên men sản xuất nước tẩy rửa, trong khí đó phần lá cây, vỏ chuối, cơm thừa, cá, thịt thì hướng theo compost có bổ sung men vi sinh. Và rồi, ở đây người ta còn hướng tới một làng quê có trồng rau, có làm lúa, có chăn nuôi gia cầm kết hợp để có sản phẩm phục vụ du lịch, không chỉ thức ăn, mà còn cảnh quê thơ mộng.

Tham gia nghiên cứu và khảo sát về quản lý rác thải hộ gia đình tại Lý Sơn, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Núi Thành, Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn trong những năm vừa qua, nhận thấy rằng rác thải sinh hoạt tại các địa phương chưa được quản lý theo một hệ thống tổng hợp và không theo con đường đi hoặc vòng đời của rác thải. Các địa phương như Lý Sơn, Đức Phổ (Quảng Ngãi) đã hình thành một tổ chức thu gom, xử lý với trách nhiệm trên toàn địa bàn của huyện, như Lý Sơn, có nhà máy rác, và Đức Phổ trong 2 năm gần đây cũng vừa khánh thành nhà máy rác tại Sa Huỳnh [5]. Với tổ chức là nhà máy rác, một hệ thống thu gom đến tận hộ gia đình, cũng như hệ thống làm phân compost và một lò đốt rác quy mô nhỏ. Ngoài ra trong khuôn viên của nhà máy rác còn có các hộc rác được cấu tạo có hệ thống thu gom nước rỉ rác ở tầng đáy và các hồ xử lý nước thải giảm nồng độ chất ô nhiễm trước khi được thải ra môi trường ngoài. Trước khi các nhà máy rác được vận hành, một đợt tập huấn về phân loại rác tại nguồn được tổ chức đến tận hộ gia đình. Như vậy đối với huyện Lý Sơn và huyện Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngãi, quản lý rác thải sinh hoạt đã được tổ chức, tuy nhiên mới chỉ ở góc độ hợp tác giữa nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân, trong cam kết ban đầu cho việc phân loại và thu gom, xử lý tại nhà máy. Tuy nhiên, quản lý rác thải sinh hoạt như theo ví dụ tại Hội An là một quá trình quản lý tổng hợp, theo con đường đi của rác, lấy phân loại rác tại nguồn làm phương thức tiếp cận nhằm gắn kết sự tham gia của tất cả các bên cơ quan, thiếu sự điều phối và thiếu các hỗ trợ từ các tổ chức cộng đồng, phong trào thiện nguyện, nhà khoa học, hợp tác quốc tế [5]. Chính vì vậy, quá trình hoạt động của quản lý rác thải tại hai huyện này đã và đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như sự quá tải trong các lò đốt rác, nguyên liệu đầu vào quá nhiều rác thải nhựa, hệ thống xử lý khí thải, cũng như nhiệt độ đốt trong buồng thứ cấp không cao. Và đâu đó đã gặp nhiều phản ứng từ người dân sinh sống chung quanh gần nhà máy rác, như nhà máy rác Sa Huỳnh hiện tại phải đóng cửa lò đốt rác. Đối với Đà Nẵng, hoạt động chính của quản lý rác là được xoay quanh các bãi rác với hoạt động chôn lấp hợp vệ sinh. Bãi rác có hệ thông thu gom nước rỉ rác. Đồng thời bãi rác cũng có một hệ thống lò đốt rác thải công nghiệp và rác thải ý tế, cũng như hệ thống xử lý nước thải và phân nhà cầu, một cách quy mô. Tuy nhiên trong thời gian hiện tại khối lượng rác thải sinh hoạt ngày một gia tăng, trong khi thành phần rác thải thay đổi, đặc biệt rác thải với hàm lượng plastic cao ngày càng nhiều, đã và đang là nguy cơ lớn đến sức chứa của các hố rác. Trong thời gian ngắn sắp đến rác thải thành phố Đà Nẵng được dự báo là sẽ tràn ngập, nếu như không có các giải pháp thay thế hoặc xây dựng những hố rác hợp về sinh mới.

Kiến nghị/Đề xuất

Nhìn nhận lực lượng và nguồn lực trong cộng đồng phục vụ cho quản lý tổng hợp của mô hình đồng quản lý rất là quan trọng.Trong khi phân tích quản lý rác thải trước đây, chúng ta nhìn nhận đối tượng chỉ là rác, hay nói cách khác là sự tồn tại và xuất hiện của nó tại một không gian và thời điểm nhất định. Đồng thời chúng ta nhìn nhận nó chỉ đơn thuần là rác hay nói cách khác là con người hay là tác nhân sản sinh ra nó. Mà tác nhân đó chính là mỗi chúng ta, ai ai cũng phải có trách nhiệm với hành vi đó của mình mỗi khi tạo ra rác thải. Vì vậy, quản lý rác thải, chính là quản lý đến xã hội, đến con người. Hay nói cách khác là quản lý để chuyển đổi hành vi của mỗi một con người. Cần phải có chính sách tạo thuận lợi cho người ngư dân Cù Lao Chàm được xúc tiến các hoạt động sinh kế gắn liền với ngư trường trong khu bảo tồn, cụ thể như hướng dẫn du khách bơi / lặn ngắm san hô, cảnh quan biển, đại dương, Người ngư dân địa phương sẽ không bắt cá trực tiếp trong vùng ngư trường, nhưng thay vào đó họ sẽ hướng dẫn cho du khách xem cá và thu nhập từ các dịch vụ này. Một vài ví dụ cho các tuyến tour đa dạng sinh học Cù Lao Chàm, các chương trình học tập của sinh viên, hướng dẫn viên du lịch Cù Lao Chàm đã và đang ghi nhận sự đóng góp của người dân địa phương / ngư dân vào hoạt động sinh kế thay thế nhưng không hoàn toàn tách rời khỏi ngư trường biển cả . Người dân địa phương phải được bảo vệ và phải được công nhận quyền sở hữu các giá trị tài sản cá nhân, nhóm và công cộng tại các khu bảo tồn.Người dân địa phương phải được phát triển, kiếm sống trên nền tảng sinh kế truyền thống mà thường ngày họ đã và đang làm.Những sinh kế mới được kiến tạo chỉ và chỉ khi là sự kết nối giữa các thành phần tài sản công cộng, nhóm và cá nhân trong hệ thống được nghiên cứu.Sự đồng thuận giữa các bên liên quan trong môi trường rất là quan trọng. Người dân địa phương hoặc người lao động tại đây phải là những người chủ thực sự đối với công sức và thành quả lao động của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo cáo kết quả các dự án GEF – SGP tại Hội An; (VNM/ICCA-GSI/2017/3).

[2] Chu Mạnh Trinh, 2014, Xây dựng mô hình đồng quản lý rác thải tại 2 xã, phường Cẩm Hà và Cẩm Phô, thành phố Hội An. Mã số: KC.01.09. BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm Hội An.

[3] Chu Mạnh Trinh, Lê Ngọc Thảo, Lê Vĩnh Thuận, Huỳnh Ngọc Diên, Phan Công Sanh, Nguyễn Tùng Linh, Lê Nhương, Nguyễn Thị Hồng Thúy, 2019, “Trường hợp nghiên cứu : 1/ Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) tại xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam; 2/ Mô hình đồng quản lý và phục hồi rạn san hô với sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp tại Khu Bảo tồn Biển Cù Lao Chàm” Luận cứ khoa học nhằm hài hòa các mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học, sinh kế bền vững và phát triển kinh tế xã hội ở Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, BQL Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, 5/2019.

[4] Chu Mạnh Trinh, Lê Nhương, Phan Công Sanh, 2019, “Du lịch học tập, mô hình phát triển bền vững sinh kế cư dân Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An”, Kỷ yếu Hội thảo: Tiềm năng & Giải pháp phát triển Làng Văn hóa du lịch huyện Chợ Lách trên nền tảng phát triển du lịch nông thôn, Huyện Chợ Lách – Bến Tre, ngày 04-05 tháng 6 năm 2019, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

[5] Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019, “Quản lý rác thải sinh hoạt Hội An, các hướng tiếp cận”, Tài liệu Hội thảo Quản lý rác thải, Tp. Phan Thiết, 28/6/2019, Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ Môi trường Toàn cầu, UNDP GEF SGP, Hà Nội, Việt Nam.

[6] Chu Mạnh Trinh, Bùi Đức Hùng, Trịnh Thị Thu (2018), “Giải pháp tài chính bền vững cho khu bảo tồn biển từ phát triển du lịch – Mô hình ở Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế lần thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững ở Miền trung Việt Nam và ASEAN, trang 601 – 619, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, ISBN: 978-604-956-319-5, 5/2018.

[7] Chu Mạnh Trinh (2011), Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển T11 (2011), 2, tr.79-95.

[8] Chu Mạnh Trinh (2016), Ứng dụng luận điểm 4 cột trụ giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; Nghiên cứu trường hợp điển hình về hoạt động môi trường của sinh viên Đại học Quảng Nam cùng cộng đồng ở Hội An, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Quảng Nam, ISSN 0866-7586. Số 08/2016.

[9] Chu Mạnh Trinh (2014), “Building Resilience in Hoi An city, Viet Nam through the Cham Islands Marine Protected Area (Chapter 17 – Viet Nam. P.149)”, Safe Havens: Protected Areas for Disaster Risk Reduction and Climate Change Adaptation. Gland, Switzerland: IUCN. xii + 168 pp , (Murti, R. and Buyck, C. (ed.) (2014).

[10] Chu Mạnh Trinh (2017), Du lịch Lý Sơn, Quảng Ngãi - Tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam, Trang Thông tin Điện tử (www.culaochammpa.com.vn).

[11] Thêm một tuyến du lịch sinh thái tại Cẩm Thanh, Đài Truyền thanh - Truyền hình, Hội An, http://www.hoianworldheritage.org.vn/vi/news/Du-lich-Hoi-An/them-mot-tuyen-du-lich-sinh-thai-tai-cam-thanh-1711.hwh.

[12] Tour thử nghiệm được hình thành kết nối vườn rau Thanh Đông với du lịch(VNM/ICCA-GSI/2017/3).

[13] UBND Tp. Hội An, 2018, Sách trắng rác thải thành phố Hội An, Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND Thành phố Hội An.

[14] UBND Tp. Hội An, 2019/QĐ-UBND, Quyết Định Kiện toàn Ban điều hành và các tổ chuyên môn chương trình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn thành phố Hội An, 11/8/2018, UBND Thành phố Hội An.

[15] Jane Singer, Kinh Thi Kieu, Andrea Emma Pravitasari, 2019, “Solid Waste Management in Tourist Destinations in Developing Nations: Case Studies in Hoi An, Vietnam, and Puncak, Indonesia”, Pages 189-206, Environmental Sustainability and Education for Waste Management, Implications for Policy and Practice, Winnie Wing Mui So,Cheuk Fai Chow, John Chi Kin Lee, 2019.

 
 

Quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt theo vòng đời và hướng đến không rác thải nhựa đại dương. Trường hợp nghiên cứu: Hội An, Sa Huỳnh, Hạ Long.

PDF.InEmail

Thứ bảy, 30 Tháng 11 2019 15:53 Số truy cập:744

Tóm tắt: Rác thải hàng ngày vẫn được sản sinh, ngày một gia tăng, vì số người phát thải, vì thành phần, vì nhu cầu sử dụng hàng hóa, thực thẩm, bao bì! Vì vậy, bao giờ chúng ta mới có thể có được một sự đồng hành về quản lý rác thải tại cộng đồng. Làm thế nào mỗi sáng ra hoặc mỗi chiều về, người điều hành có thể có được một bức tranh tổng hợp, hôm nay, cộng đồng, hay thành phố này có bao bao nhiêu lượng rác thải được hình thành, thành phần nó là gì, rác thải đến từ đâu và đang đi đâu trên con đường đi của chúng? Lựa chọn cách tiếp cận để giải quyết vấn đề trên là một nhu cầu cấp thiết nhằm hài hòa với bức xúc hiện tại về sự tồn đọng của rác thải và về định hướng tương lai cho một cộng đồng, làng quê, đô thị, thành phố không rác thải đặc biệt là rác thải nhựa đại dương. Bài viết trình bày các kết quả đúc kết được từ nghiên cứu thực tiễn quản lý rác thải tại Hội An, Sa Huỳnh và Hạ Long về quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt, các chọn lựa tiếp cận, thảo luận các hoạt động tham gia và đồng thời các kiến nghị áp dụng tại các địa phương.

Từ khóa: Quản lý tổng hợp rác thải; Con đường đi / vòng đời của rác thải; Sự tham gia của cộng đồng; Phân loại rác tại nguồn;

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Rác thải nói chung và rác thải nhựa đại dương đang được dự báo là thảm họa ô nhiễm của con người, rác thải nhựa khắp mọi nơi từ ngoài đường đến bãi rác, từ đồng ruộng đến dòng sông và ra bãi biển đến đại dương, ngay cả trên núi cao nơi có con người đặt chân đến là có thể tìm thấy rác thải và trong đó rác thải nhựa là phần lớn. Rác thải nhựa trước đây dường như ít quan tâm vì khối lượng của nó, tuy nhiên gần đây rác thải nhựa bỗng dưng bùng phát, nhưng không phải, đó là một sự tích lũy và đã và đang đến thời kỳ bùng nỗ như một phát tán của nạn dịch lan truyền rất nhanh. Đặc biệt đối với những nơi đông người, thành phố lớn, đô thị, hoặc với những vùng du lịch đại trà. Rác thải nhựa tràn lan theo sự tiện lợi của hoạt động sống của con người, nhanh, gọn, nhẹ theo mọi hình dáng, kiểu mẫu, không chỉ là những chiếc túi nylon tiện dụng, mà còn là những bao bì chi li, đến những chiếc ao mưa tiện ích, và nhiều nhiều nữa không kể hết, từ gói ghém thực phẩm đến áo quần, và hàng điện tử cao cấp…Rác thải nhựa đại dượng được biết đến lúc đầu là một sự tổn thương đến cảnh quan, rồi sau đó là đe dọa bao nhiêu đời sống của sinh vật biển, và gần đây là sức khỏe của con người với những bằng chứng tìm thấy từ phòng thí nghiệm về vi nhựa. Rác thải nhựa ngày nay con người đã lên tiếng! Nhiều hội thảo, hội nghị từ khoa học đến cộng đồng, từ phong trào đến cam kết quốc gia và quốc tế, rác thải nhựa phải được sự quan tâm của mọi người trên phạm vi toàn cầu đến hộ gia đình, đồng lòng và quyết tâm, kiên trì từng bước một giảm thiểu, thay thế, chuyển hóa, kiểm soát và “loại bỏ” chúng ra khỏi đời sống sinh hoạt hàng ngày của chúng ta. Chính vì vậy rác thải nhựa phải được quản lý một cách tổng hợp với sự tham gia của mọi người, mọi ngành, trên nhiều lĩnh vực, phạm vi và liên kết. Câu chuyện hướng đến không rác thải nhựa đại dương với trường hợp nghiên cứu quản lý rác thải sinh hoạt hộ gia đình tại Hội An được mô tả và đúc kết sẽ phần nào giới thiệu với người đọc cách tiếp cận, tổ chức hoạt động, mô hình thực hiện và bài học kinh nghiệm triển khai nhân rộng. Câu chuyện còn là một ví dụ điển hình từ thực tiễn kêu gọi sự tham gia từ cộng đồng, cũng như những thăng trầm trong qua trình chuyển biến nhận thức, chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong sự nghiệp bảo vệ môi trường giảm thiểu ô nhiểm từ rác thải, nói không với túi nylon, và hướng tới không rác thải nhựa tại một địa phương, mà từ lâu và hiện tại đã và đang phát triển chủ yếu dựa vào bảo tồn và cộng đồng.

Hội An đã và đang có một quá trình tiếp cận với quản lý rác thải một cách hệ thống rất quý giá được ghi lại từ những năm 2000 đến nay. Năm 2002 Hội An bắt đầu phân loại rác tại nguồn với chi tiết bao gồm rác dễ phân hủy sinh học, rác khó phân hủy sinh học và rác tái chế. Sáng kiến này được bắt đầu từ phường Minh An, những ngày đầu thực hiện sáng kiến, người dân và công ty công trình công cộng đã rất nhiệt tình tham gia, tuy nhiên sau đó, rác phân loại được phát hiện không tiếp tục tách riêng khi đến bãi rác mà cùng đổ chung lại với nhau, và từ đó người dân không chịu phân loại nữa. Đến năm 2006, Hội An, triển khai phân loại rác tại nguồn lần thứ 2 tại 4 phường nội thị (Minh An, Tân An, Sơn Phong, Cẩm Phô). Rác thải hộ gia đình vẫn được kêu gọi phân loại tại nguồn với 3 thành phần chính bao gồm rác thải tái chế, rác phân hủy sinh học.và rác không phân hủy sinh học. Các lớp tập huấn phân loại rác tại nguồn được tổ chức đồng thời các kết nối hỗ trợ được tập hợp từ các dự án nhỏ của Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quỹ môi trường toàn cầu, Chương trình phát triển LHQ (GEF/UNDP SGP) với mục tiêu lâu dài là nâng cao năng lực quản lý môi trường đô thị cổ Hội An theo các hướng giảm thiểu áp lực từ nước thải sinh hoạt, rác thải sinh hoạt, thông qua các nhóm hoạt động vận động xây dựng mô hình xử lý nước thải tại các nhà hàng khách sạn tại 2 phường Minh An, Cẩm Phô, mô hình tổ chức thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại xã Cẩm Thanh và xây dựng quy chế quản lý môi trường tại đô thị cổ Hội An (Chu Mạnh Trinh, 2014).

Song song với dự án GEF/UNDP SGP (2006-2009) là đóng góp từ dự án xây dựng khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm về tổ chức phân loại, thu gom, xử lý rác thải hộ gia đình tại xã đảo Tân Hiệp. Tiếp nối các kết quả này, một nỗ lực mới đến với Hội An là dự án môi trường về xây dựng nhà máy phân compost, và nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt của thành phố (2006-2016). Đồng thời mô hình 3 R từ thành phố Naha (Okinawa) Nhật Bản (2008-2018) và dự án thứ 2 của GEF/UNDP SGP (2010-2013) hỗ trợ xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải cũng được giới thiệu và triển khai, liên tục gắn kết Hội An vào hành động bảo vệ môi trường. Năm 2017 tiếp cận với Zero Waste (Không Rác Thải), các phong trào cộng đồng về bảo vệ môi trường như tổ chức thu gom rác thải trên các dòng sông tại Hội An, thu gom pin, mô hình làng quất không thuốc trừ sâu, phong trào thu gom rác thải bãi biển An Bàng, hoặc dự án thành phố sinh thái (Eco City) của nhóm tình nguyện viên quốc tế được ghi nhận. Đồng thời 4 giai đoạn phát triển của quản lý rác thải tại Hội An được phân tích bao gồm: (1) Rác thải hộ gia đình phần lớn là rác dễ phân hủy (hữu cơ) được chôn, đốt trong vườn / đổ tại các bãi rác tự phát / dần phân hủy – Tiếp cận phân compost (chăn nuôi nông thôn); (2) Thành phần rác thải sinh hoạt thay đổi dần, rác thải nylon xuất hiện, lượng rác thải tăng / rác được đổ tại các bãi rác tự phát / đốt / bãi rác tự phát quá tải / bãi rác hợp vệ sinh xuất hiện – Tiếp cận thu mua ve chai – rác tái chế / Cty Môi trường Đô thị - Tổ tự quản – Quản lý Nhà nước về rác thải; (3) Lượng rác thải bùng nổ / rác thải nylon chiếm ưu thế về thể tích / bãi rác hợp vệ sinh quá tải / nhà máy rác (đính kèm làm phân compost) và lò đốt rác quy mô nhỏ / - Tiếp cận phân loại rác tại nguồn / Cty Môi trường Đô thị - Tổ tự quản – Nhà nước và nhân dân cùng làm; (4) Quá tải về rác thải ở thành phố / đô thị / bãi rác hợp vệ sinh phải đóng cửa / nhà máy rác phân compost và lò đốt rác quy mô nhỏ hoạt động quá tải, phân compost kém chất lượng / nguy cơ ô nhiễm rác thải / ô nhiễm rác thải nhựa đại dương, ven bờ - Tiếp cận zero waste / Cty Môi trường Đô thị - Tổ tự quản – Quản lý tổng hợp rác thải (Chu Mạnh Trinh, 2016).

hinh 1-chu trinh

Hình 1: Quá trình diễn biến quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An, Quảng Nam.

Gần đây năm 2018, dự án về đóng cửa bãi rác Hội An và xử lý khí bãi rác cũng như nâng cao năng lực phân loại rác tại nguồn và làm phân compost hộ gia đình (xã Cẩm Nam), và xúc tiến xây dựng kế hoạch quản lý rác thải thành phố Hội An / Dự án Canada (Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019) chuẩn bị khởi động; kèm theo đó là dự án Zero Waste từ Gaia đến Hội An về tiếp cận nâng cao năng lực của cộng đồng về giảm thiểu rác thải và đặc biệt là rác thải nhựa nguy cơ đến ô nhiễm đại dương; và một dự án nhỏ nữa từ Environmental Pacific là hỗ trợ tiếp cận cộng đồng Cù Lao Chàm đến với Zero Waste với các hoạt động MRF (mô hình tuần hoàn vật chất) bao gồm các công đoạn phân loại rác thải tái chế, làm phân compost, thu gom phân loại rác thải tại nguồn trên quy mô cộng đồng dân cư, trường học, làng quê với mong muốn áp dụng tại trường học và tại Bãi Hương. Cù Lao Chàm, và tương tự tại Cẩm Thanh cũng sẽ phối hợp với địa phương xây dựng một MRF thí điểm cùng kết hợp với tập huấn nâng cao năng lực như kiểm toán chất thải. Như vậy, với cách tiếp cận thực tế, phỏng vấn cộng đồng, chính quyền xã, hội phụ nữ về câu chuyện quản lý rác thải tại địa phương, và các cơ quan liên quan, câu chuyện về quản lý rác thải sinh hoạt tại Hội An được trình bày, nhằm mục đích giới thiệu đến người đọc cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như các áp dụng kết nối và đặc biệt các hướng đến tương lai nhằm góp phần giảm thiểu và không rác thải nhựa đại dương được đề cập.

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nghiên cứu tổng thể thực trạng quản lý rác thải địa phương theo các tiếp cận: (1) Tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực địa phương ABCD (asset based community development); phân tích hiện trạng quản lý di sản theo khung dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, đáp ứng DPSIR (drivers, pressures, state, impact, responses); nguyên tắc cụ thể, lượng hóa, khả thi, hợp lý, thời gian SMART (specific, measurable, attainable, reasonable, time), phân tích mặt mạnh, yếu, cơ hội và thách thức SWOT (strengths, weaknesses, opporntunities, threats) được sử dụng; (2) Kế thừa nguồn tài liệu thứ cấp, và làm việc nhóm; (3) Thực địa theo tour với phỏng vấn, quan sát, ghi chép, thảo luận, trình bày theo học cụ giấy A0, bút màu, ghi âm, ghi hình; (4) Tham quan học tập các khu bảo tồn, bảo vệ, phát triển cộng đồng và du lịch quốc gia và quốc tế; và (5) Hội thảo.

2.2. Nghiên cứu định hướng áp dụng tại 3 địa phương bao gồm: + Nghiên cứu tổng hợp kết quả hoạt động mô hình quản lý rác thải Hội An / hiện trạng quản lý rác thải Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định; + Hướng quản lý rác thải theo vòng đời (con đường đi của rác); + Hướng quản lý rác thải theo Zero Waste / 3 R (reduce, reuse, recycle); 5 R (reduce, reuse, recycle, refuse, rot) – giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, từ chối, làm phân compost; + Hướng quản lý rác thải theo Break Free From Plastic – không rác thải nhựa đại dương; + Hướng quản lý tổng hợp rác thải / đồng quản lý / sự tham gia của cộng đồng; + Hội thảo / trình diễn kịch bản

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Quản lý rác thải theo vòng đời - Phân tích con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Hội An / phân loại rác tại nguồn Hội An / và thiết kế mô hình đồng quản lý(ĐQL) rác thải theo phương thức phân loại rác tạ nguồn (PLRTN).

Mô hình ĐQL rác thải sinh hoạt theo phương thức PLRTN được thiết kế trên cơ sở khoa học về ĐQL, con đường đi của rác thải và định hướng chiến lược quản lý rác thải tại thành phố Hội An. Một giả định khoa học đặt ra là định hướng đó chỉ rõ rác thải được phân loại và ví dụ đơn giản tại địa phương khi khởi đầu là rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt bao gồm rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động PLR thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Sau đó 3 loại rác thải sinh hoạt được thu gom và chuyển đến các điểm cuối cùng theo đúng quy định. Rác thải tái chế sẽ được chuyển đến các cơ sở thu mua phế liệu. Rác thải dễ phân hủy sẽ được chuyển đến nhà máy làm phân compost, hoặc các nơi làm compost hộ gia đình.Rác thải khó phân hủy sẽ được chuyển đến bãi rác Cẩm Hà. Như vậy, theo lý luận thì mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN phải là công cụ giúp Nhà nước tổ chức và điều phối được các hoạt động liên kết giữa các lực lượng bao gồm người dân, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.

hinh 2-chu trinh

Hình 2: Hướng dẫn xây dựng và phân tích con đường đi của rác

Sự liên kết của 4 lực lượng này sẽ là nền tảng tạo nguồn lực cơ bản và lâu bền hỗ trợ mạnh mẽ cho quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố đạt được kết quả.Sự liên kết này cần được hỗ trợ để hình thành, phát triển và sau đó chính sự vững mạnh của nó sẽ thúc đẩy sự bền vững sau này và giảm nhẹ gánh nặng mà Nhà nước phải lo toan như hiện tại. Mô hình được thực hiện mang nội dung và hình thức phát triển cộng đồng vì vậy để thuận lợi triển khai các hoạt động của mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN cần phải xúc tiến công tác truyền thông nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng tiếp cận và tham gia các hoạt động của mô hình. Sự tham gia rộng rãi và tích cực của người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học vào mô hình bao giờ cũng tỷ lệ thuận với hiệu quả triển khai hoạt động. Đồng thời mô hình sẽ tạo điều kiện kế thừa một cách có hệ thống và phối kết hợp với các chương trình, dự án có liên quan tại địa phương một cách phù hợp.

Bảng 1: Danh sách thành viên tổ ĐQL PLRTN tại thôn Trà Quế, Cẩm Hà (Chu Mạnh Trinh, 2014) 

 

hinh 3 - chu trinh

3.2. Từ không túi nylon Cù Lao Chàm hướng đến không rác thải nhựa đại dương

Hướng đến không rác thải nhựa đại dương đang là một ước vọng và quyết tâm lớn của con người nói chung và đối với từng quốc gia từng khu vực và từng cộng đồng nói riêng, đặc biệt đối với những đất nước giàu có tài nguyên biển và trực tiếp giao thương với biển và đại dương. Tuy nhiên, để thực hiện được mong muốn ấy, rác thải nhựa đại dương phải được quản lý tổng hợp ở bất cứ nơi nào trên quả đất này, bởi mọi vùng đất, mọi nẻo đường đều đổ xuống dòng sông và mọi con sông đều chảy về biển. Để quản lý được tổng hợp rác thải nói chung và rác thải hộ gia đình nói riêng phải được nhìn nhận theo một khung logic nghiên cứu con đường đi của rác thải từ lúc rác thải được phát sinh cho đến điểm cuối cùng, trong đó trách nhiệm và lợi ích của mọi người, mọi bên liên quan đều phải được phân định rõ ràng theo từng công đoạn một của con đường đi ấy. Các hướng tiếp cận 5 R (refuse, reduce, reuse, recycle, rot – từ chối, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, làm phân compost) với mong muốn là từ chối những hàng hóa, bao bì có khả năng sinh ra rác thải hoặc rác thải nhựa với khả năng cao nhất, giảm thiểu bao bì sử dụng nhất là những bao bì nhựa, sử dụng trở lại các vật dụng, bao bì đặc biệt là bao bì nylon với tiết kiệm lớn nhất, tái chế lại các vật dụng, rác thải thành các vật dụng khác có khả năng sử dụng trở lại, làm phân compost nhất là compost hộ gia đình.

hinh 4 - chu trinh

Hình 3: Cù Lao Chàm nói không với túi nylon

3.3. Cộng đồng tham gia

Để kêu gọi mọi người trong cộng đồng tham gia theo định hướng trên, một số các hoạt động cần thiết được đề cập bao gồm tổ chức kiểm toán rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình, nhà hàng, khách sạn, chợ, nơi công cộng, cơ quan trường học...; phát động phong trào và tiến đến quy định phân loại rác tại nguồn theo bước cơ bản nhất là rác dễ phân hủy, rác khó phân hủy và rác tái chế tại nơi rác được hình thành; kêu gọi mọi hộ gia đình làm phân compost rác dễ phân hủy theo khả năng có thể nhất là những hộ gia đình có vườn, hoặc ở nông thôn; thu gom rác theo nhóm đã được phân loại và kiên quyết thực thi nguyên tắc này không phân loại không thu gom; hạn chế tối đa đốt rác nếu không có trang thiết bị đảm bảo nhiệt độ đốt tối thiểu 1.2000C, và xử lý khí thải lò đốt; vận động các phong trào quần chúng, tổ chức cộng đồng tham gia quản lý rác thải, thực hiện các giải pháp giảm thiểu nói không với rác thải nhựa, sử dụng các vật dụng thay thế túi nylon, ống hút nhựa, hộp nhựa đựng thức ăn, ly nhựa dùng một lần, hoặc các bao bì nhựa khác...(UBND Tp. Hội An, 2019/QĐ-UBND).

3.4. Liên minh không rác thải

Zero Waste đã và đang trở thành lý tưởng phấn đấu của con người. Nhiều tình nguyện viên đã và cam kết bản thân, nhằm hướng đến một xã hội khỏe mạnh hơn không rác thải. Zero Waste đã là phẩm chất của con người với tương lai không những cho cộng đồng mà cả với thế giới tự nhiên. Nhiều giải pháp kiến nghị cho cộng đồng được tốt đẹp hơn với Zero Waste, tuy nhiên các cá nhân đã và đang chọn cho bản thân mình tấm gương phấn đấu và nỗ lực hoạt động để động viên người khác làm theo, noi theo. Tuy nhiên làm thế nào để Zero Waste được dễ dàng chấp nhận từ cộng đồng, hay nói gần hơn là mọi người có thế tiếp nhận một cách nhẹ nhàng. Một trong ý kiến được đề nghị là Zero Waste cần được biết và hiểu đúng với ý nghĩa của nó. Zero Waste phải thực sự là Zero Waste có nghĩa là hướng đến không rác thải. Nếu như chi ly phân tích thì mọi hoạt động sống của con người đều gắn liền với quá trình hình thành chất thải vì đó là tất yếu của sự vận động, nhưng sự vận động đó cần được hiểu theo một hệ thống và mọi đầu ra của một thành phần nào đó phải được sử dụng gắn kết cho thành phần khác trong hệ thống đó. Cuộc sống của con người cũng vậy, mọi chất thải từ con người từ mỗi thành viên trong cộng đồng cần phải được hiểu như là một sự cần thiết không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sống của thành viên khác kể cả con người và môi trường sống tự nhiên và xã hội chung quanh. Và như vậy ứng xử với rác thải trong cộng đồng cần được tiếp cận không chỉ là rác thải là môi trường sinh thái mà còn là đạo đức là tình cảm và là lợi ích của mọi thành viên sinh sống chung quanh.

Thông thường để tiến đến một cộng đồng không rác thải một số các giải pháp tiếp cận nhằm kêu gọi mọi người tham gia bao gồm: (1) Composting / làm phân hữu cơ ở mức độ hộ gia đình, mức độ cộng đồng hoặc tổ chức lớn cấp độ nhà máy xí nghiệp nhằm chuyển lượng rác thải hữu cơ thành phân compost; (2) Phân loại rác tại nguồn với sự tham gia trách nhiệm từ các thành viên trong cộng đồng. Rác thải hộ gia đình phải được phân loại thành các nhóm thành phần theo hướng sử dụng một cách thiết thực. Hiện tại rác thải hộ gia đình được phân loại tại nguồn thành 3 nhóm chính bao gồm rác có thể tái chế được; rác được sử dụng làm phân compost; và phần còn lại rác khó phân hủy cần phải được đưa lên bãi rác. (3) Theo hướng từ chối hoặc tái sử dụng / tái chế (Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019).

3.5. Quản lý rác thải theo hướng Zero Waste

Tiếp cận Zero Waste thực sự được hiểu theo góc độ sinh thái học là ứng xử của con người với thế giới tự nhiên một cách công bằng, tôn trọng lợi ích của tự nhiên và ngược lại con người được hưởng tối đa các dịch vụ sinh thái mà tự nhiên dành cho con người đó là một sự công bằng. Tuy nhiên sự công bằng đó không phải xuất phát từ bản thân một con người hay một cộng đồng đơn lẻ đối diện với thế giới tự nhiên mà giữa con người với con người giữa các cộng đồng với nhau trong sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên nuôi sống chúng ta hàng ngày. Sự hình thành hoặc nhận ra một quá trình thay đổi cần được thể hiện ở một mục tiêu rõ ràng ví dụ Zero Waste phải thật sự hiểu đúng nghĩa là hướng đến một cộng đồng không rác thải tương lai. Quá trình này cần được xây dựng trên sự tham gia của toàn thể các thành phần, được điều phối, nâng cao năng lực, giáo dục, nghiên cứu, sinh kế, kiểm tra, giám sát,…Hướng đến một mục tiêu không rác thải bằng sự thay đổi hành vi theo nhận thức hay nói cách khác là chuyển biến từ nhận thức đến hành vi là một quá trình dài lâu, cộng đồng có thể tiếp nhận. Có nhiều cách biểu đạt sự thay đổi đó trong bản thân một con người được mô tả từ biết, hiểu, hợp tác, hành động,…Vì vậy, tổ chức các hoạt động để mỗi một cá nhân trong cộng đồng tham gia là rất quan trọng, có thể bao gồm giáo dục, truyền thông, nghiên cứu, ảnh hưởng của nhân vật quyền lực, tác động kinh kế, chính sách, hoặc xây dựng các điển hình…(Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019).

3.6. Zero Waste Việt Nam

Zero Waste Việt Nam được hình thành từ một hội thảo (10/2017), các thành viên bao gồm các tổ chức NGO về bảo vệ môi trường, giáo dục cộng đồng, truyền thông như MCD, Green Hub, Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR), Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (MPA), Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng (DISED), Trung tâm Sạch và Xanh, Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh (Green Viet),…Hiện tại Zero Waste Việt Nam Movement đã tạo được mạng liên kết các thành viên hoạt động xây dựng và phát triển phong trào hưởng ứng khái niệm zero waste tại Việt Nam và liên kết quốc tế. Thông qua trang face book Việt Nam Zero Waste và Website các thông tin về hoạt động zero waste tại các alliances được chuyển tải và gắn kết, đồng thời một số hoạt động kiểm toán rác thải tại Cát Bà, Hạ Long được tổ chức và qua đó các liên kết của alliances được xây dựng. Green Hub, MCD, MPA, BR, DISED, Trung tâm Sạch và Xanh…đã và đang liên tục có nhân viên của tổ chức mình tham gia học tập, nghiên cứu zero waste trong nước và quốc tế (Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019).

3.7. Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An

Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt (ĐQL) theo phương thức phân loại rác tại nguồn (PLRTN) được thiết kế trên cơ sở khoa học về ĐQL, con đường đi của rác thải và định hướng chiến lược quản lý rác thải tại thành phố Hội An. Một giả định khoa học đặt ra là định hướng đó chỉ rõ rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt bao gồm rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Sau đó 3 loại rác thải sinh hoạt được thu gom và chuyển đến các điểm cuối cùng theo đúng quy định. Rác thải tái chế sẽ được chuyển đến các cơ sở thu mua phế liệu. Rác thải dễ phân hủy sẽ được chuyển đến nhà máy làm phân compost, hoặc các nơi làm compost hộ gia đình.Rác thải khó phân hủy sẽ được chuyển đến bãi rác Cẩm Hà. Như vậy, theo lý luận thì mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN phải là công cụ giúp Nhà nước tổ chức và điều phối được các hoạt động liên kết giữa các lực lượng bao gồm người dân, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học trong việc quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.

Sự liên kết của 4 lực lượng này sẽ là nền tảng tạo nguồn lực cơ bản và lâu bền hỗ trợ mạnh mẽ cho quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố đạt được kết quả.Sự liên kết này cần được hỗ trợ để hình thành, phát triển và sau đó chính sự vững mạnh của nó sẽ thúc đẩy sự bền vững sau này và giảm nhẹ gánh nặng mà Nhà nước phải lo toan như hiện tại.

Mô hình được thực hiện mang nội dung và hình thức phát triển cộng đồng vì vậy để thuận lợi triển khai các hoạt động của mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN cần phải xúc tiến công tác truyền thông nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng tiếp cận và tham gia các hoạt động của mô hình. Sự tham gia rộng rãi và tích cực của người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học vào mô hình bao giờ cũng tỷ lệ thuận với hiệu quả triển khai hoạt động. Đồng thời mô hình sẽ tạo điều kiện kế thừa một cách có hệ thống và phối kết hợp với các chương trình, dự án có liên quan tại địa phương một cách phù hợp(Jane Singer, Kinh Thi Kieu, Andrea Emma Pravitasari, 2019).  

hinh 5 - chu trinh

hinh 6 - chu trinh

Hình 4: Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An.

Giải thích ý nghĩa của hình 4

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được bắt đầu từ bước phát sinh đến phân loại rác qua thu gom và điểm đến cuối cùng.

“Rác phát sinh”: Rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được ra đời từ 4 nguồn phát sinh chính đó là (1) hộ gia đình, (2) nhà hàng, khách sạn, (3) chợ, trường học, cơ quan, (4) đường phố, nơi công cộng.

“Phân loại rác”: Rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt là rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn. Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều nơi, rác thải phát sinh chưa được phân loại. Điều này có nghĩa là 3 loại rác bao gồm rác thải tái chế, rác khó phân hủy, rác dễ phân hủy không được tách biệt thành từng nhóm riêng biệt mà đang bị trộn lẫn nhau.

“Thu gom” là biểu hiện của giai đoạn rác thải được thu gom từ khắp nơi trong thành phố và được đưa về các điểm đến cuối cùng. Thực hiện hoạt động thu gom rác thải hiện nay chủ yếu là 3 lực lượng chính, đó là Công ty Cổ phần Công trình Công cộng của thành phố Hội An (CTCT), các Tổ thu gom tự quản và Đội ngũ những người thu mua ve chai của địa phương.

“Điểm đến cuối cùng” là nơi hoặc là không gian mà rác được đưa về tập kết trong thành phố một thời gian dài hoặc được chế biến trước khi chuyển ra ngoài địa bàn thành phố Hội An. “Điểm đến cuối cùng” hiện nay trên con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Hội An là bãi rác Cẩm Hà và các cơ sở thu mua phế liệu. Trong thời gian gần đây, ngoài bãi rác Cẩm Hà, các cơ sở thu mua phế liệu, thành phố Hội An còn đưa vào sử dụng Nhà máy làm phân compost và khái niệm làm phân compost hộ gia đình.

Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An vẫn còn một lượng đáng kể phát tán không kiểm soát được một cách tự do ngoài môi trường chung quanh như tại các bãi đất “hoang”, sông ngòi, bãi biển. Lượng rác thải sinh hoạt phát tán này thông thường được thu gom thông qua các phong trào dọn vệ sinh, làm sạch bãi biển, dòng sông chung của thành phố và các xã phường.

Quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An

Quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An được thể hiện rõ nét qua hai mối quan hệ chỉ đạo và hợp tác. Mối quan hệ chỉ đạo thực hiện các quy định về quản lý rác thải sinh hoạt trong thành phố Hội An được thể hiện theo con đường quản lý Nhà nước từ UBND Thành phố xuống UBND Xã/Phường, Thôn/Khối và Tổ Nhân dân thông qua sự tham mưu trực tiếp của Phòng Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời mối quan hệ chỉ đạo còn được thể hiện trực tiếp từ UBND Thành phố xuống Công ty CP CTCC, đến Tổ/Đội thu gom, xử lý tại Bãi rác Cẩm Hà và Nhà máy sản xuất phân compost. Mối quan hệ hợp tác được thể hiện tư vấn kỹ thuật, giáo dục, truyền thông về quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An giữa các bên liên quan, Hội Đoàn thể, tổ chức quốc tế đến cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức, năng lực thực hiện hiệu quả các hoạt động quản lý rác thải tại địa phương.  

Vai trò của các nhóm chức năng

Vai trò của 4 nhà trong quá trình thực hiện mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An:

a/ Nhà quản lý

Trong mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An, nhà quản lý được đại diện bao gồm UBND Thành phố Hội An mà đại diện trực tiếp là Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND Xã/Phường, Thôn/Khối và Tổ Nhân dân.

b/ Nhà doanh nghiệp

Nhà doanh nghiệp trong mô hình này được định nghĩa là những cá nhân, tổ chức, tập thể thực hiện hoạt động thu gom, chế biến rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An với nguồn lực đầu tư tài chính, công nghệ, lao động từ Nhà nước, tập thể, cộng đồng hoặc tư nhân trên hình thức lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Như vậy, trong mô hình đồng quản lý rác thải tại Hội An các thành phần như: Công ty CP CTCC, Cơ sở thu mua phế liệu, hoặc người thu mua ve chai theo mức độ đầu tư mở rộng cũng có thể trở thành những doanh nghiệp thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa phương.

c/ Nhà khoa học, bảo vệ môi trường, bảo tồn, xã hội, cộng đồng

Bao gồm những tổ chức cá nhân hoạt động cống hiến cho sự nghiệp quản lý rác thải sinh hoạt tốt hơn tại thành phố Hội An. Những đóng góp từ nhà khoa học, bảo vệ môi trường, bảo tồn, xã hội, cộng đồng bao gồm các nghiên cứu, truyền thông, tuyên tuyền, phản biện khoa học, tư vấn công nghệ, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo nhằm hỗ trợ cho quản lý tốt hơn rác thải sinh hoạt, bảo vệ môi trường tại thành phố. Trong mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt thành phố Hội An, nhà khoa học, bảo vệ môi trường, bảo tồn, xã hội, cộng đồng được bao gồm các thành phần như: BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, BQL Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An, Trường Đại học, Viện Nghiên cứu, Tổ chức Phi Chính phủ (NGOs), Tổ Chức Quốc tế, Trường học, Hội Đoàn thể.

d/ Người dân Trong mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt thành phố Hội An người dân được bao gồm toàn bộ những cá nhân, gia đình, tổ chức trong cộng đồng, xã hội.Như vậy mọi người trong xã hội dù làm nghề gì, dù ở địa vị nào đều có liên quan đến rác thải sinh hoạt và thuộc vào nhóm người dân. Vì vậy, đối với mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt thì người dân địa phương, khách du lịch, hộ gia đình, nhà hàng, khách sạn, cơ quan trường học, chợ đều bị chi phối bởi theo các quy định mà người dân cần thực hiện trách nhiệm đó là phải phân loại rác theo đúng quy định và bỏ rác đúng quy định được thảo luận và thống nhất từ cộng đồng.

Lợi ích và trách nhiệm của các nhóm chức năng

Rác thải sinh hoạt và hướng đến không rác thải nhựa đại dương đòi hỏi một sự quản lý tổng hợp, mọi người, mọi thành phần trong xã hội đòi hỏi phải tham gia và cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong việc gìn giữ một môi trường trong lành và không rác thải nhựa đại dương. Vì vậy, ngoài tính pháp lý, luật, quy định, hướng dẫn…và mọi công dân, hộ gia đình, cơ quan, đơn vị phải tuân thủ, thì nhận thức và chuyển đổi hành vi hoặc tự nguyện làm tốt nhiệm vụ của mình theo quy định, hoặc tư vấn hướng dẫn cho người khác trong cộng đồng làm theo, là rất quan trọng. Ngoài việc thực thi các quy định, hoạt động truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức, năng lực cộng đồng luôn luôn được quan tâm, thực hiện, theo sự phân bổ như sau:

Nhóm quản lý: Thực thi các quy định từ Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Hướng dẫn…

Nhóm doanh nghiệp: Thu gom, xử lý theo quy định, hướng dẫn.

Nhóm khoa học, bảo tồn, xã hội: Tiếp cận thông tin, kỹ thuật, hướng dẫn, giáo dục

Người dân: Tuân thủ các quy định, cam kết thực hiện

3.8. Các ứng dụng kịch bản Phan Thiết rà soát quản lý rác thải tại địa phương và hướng cải thiện

3.8.1. Quản lý rác thải tại Lý Sơn, Đức Phổ, Đà Nẵng

Tham gia nghiên cứu và khảo sát về quản lý rác thải hộ gia đình tại Lý Sơn, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Núi Thành, Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn trong những năm vừa qua, nhận thấy rằng rác thải sinh hoạt tại các địa phương chưa được quản lý theo một hệ thống tổng hợp và không theo con đường đi hoặc vòng đời của rác thải. Các địa phương như Lý Sơn, Đức Phổ (Quảng Ngãi) đã hình thành một tổ chức thu gom, xử lý với trách nhiệm trên toàn địa bàn của huyện, như Lý Sơn, có nhà máy rác, và Đức Phổ trong 2 năm gần đây cũng vừa khánh thành nhà máy rác tại Sa Huỳnh. Với tổ chức là nhà máy rác, một hệ thống thu gom đến tận hộ gia đình, cũng như hệ thống làm phân compost và một lò đốt rác quy mô nhỏ. Ngoài ra trong khuôn viên của nhà máy rác còn có các hộc rác được cấu tạo có hệ thống thu gom nước rỉ rác ở tầng đáy và các hồ xử lý nước thải giảm nồng độ chất ô nhiễm trước khi được thải ra môi trường ngoài. Trước khi các nhà máy rác được vận hành, một đợt tập huấn về phân loại rác tại nguồn được tổ chức đến tận hộ gia đình. Như vậy đối với huyện Lý Sơn và huyện Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngãi, quản lý rác thải sinh hoạt đã được tổ chức, tuy nhiên mới chỉ ở góc độ hợp tác giữa nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân, trong cam kết ban đầu cho việc phân loại và thu gom, xử lý tại nhà máy. Tuy nhiên, quản lý rác thải sinh hoạt như theo ví dụ tại Hội An là một quá trình quản lý tổng hợp, theo con đường đi của rác, lấy phân loại rác tại nguồn làm phương thức tiếp cận nhằm gắn kết sự tham gia của tất cả các bên cơ quan, thiếu sự điều phối và thiếu các hỗ trợ từ các tổ chức cộng đồng, phong trào thiện nguyện, nhà khoa học, hợp tác quốc tế....Chính vì vậy, quá trình hoạt động của quản lý rác thải tại hai huyện này đã và đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như sự quá tải trong các lò đốt rác, nguyên liệu đầu vào quá nhiều rác thải nhựa, hệ thống xử lý khí thải, cũng như nhiệt độ đốt trong buồng thứ cấp không cao...Và đâu đó đã gặp nhiều phản ứng từ người dân sinh sống chung quanh gần nhà máy rác, như nhà máy rác Sa Huỳnh hiện tại phải đóng cửa lò đốt rác. Đối với Đà Nẵng, hoạt động chính của quản lý rác là được xoay quanh các bãi rác với hoạt động chôn lấp hợp vệ sinh. Bãi rác có hệ thông thu gom nước rỉ rác. Đồng thời bãi rác cũng có một hệ thống lò đốt rác thải công nghiệp và rác thải ý tế, cũng như hệ thống xử lý nước thải và phân nhà cầu, một cách quy mô. Tuy nhiên trong thời gian hiện tại khối lượng rác thải sinh hoạt ngày một gia tăng, trong khi thành phần rác thải thay đổi, đặc biệt rác thải với hàm lượng plastic cao ngày càng nhiều, đã và đang là nguy cơ lớn đến sức chứa của các hố rác. Trong thời gian ngắn sắp đến rác thải thành phố Đà Nẵng được dự báo là sẽ tràn ngập, nếu như không có các giải pháp thay thế hoặc xây dựng những hố rác hợp về sinh mới.

3.8.2. Quản lý rác thải tại Hạ Long.

Đối với trường hợp cụ thể quản lý tổng hợp rác thải Hạ Long, Quảng Ninh được phân tích như sau:

a) Khung logic quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt Hạ Long, Quảng Ninh, ngoài rác thải được phát sinh từ các hoạt động dân sinh hằng ngày trên đất liền, rác thải còn được phát sinh từ các hoạt động kinh tế cũng như mưu sinh trên mặt biển, vì vậy tiếp cận 3 R theo các bước trong vòng đời của rác thải với nhiều đặc trưng của khu vực này.

b) Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý rác thải sinh hoạt tại Hạ Long, Quảng Ninh hiện tại được chia sẻ với vai trò trách nhiệm cũng như lợi ích cá nhân, hộ gia đình, du khách, nhà hàng, khách sạn, trường học, cơ quan, chợ, tàu thuyền du lịch, ghe tàu đánh cá, công ty công ích thu gom xử lý rác, các nhóm thu gom, tái chế, phong trào quần chúng xã hội, quản lý nhà nước.

c) Các cơ sở vật chất hỗ trợ và phục vụ cho thu gom xử lý rác thải bao gồm bãi rác, lò đốt, trang thiết bị, phương tiện thu gom, cơ sở tái chế, sản xuất phân compost.

d) Cơ sở, chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực nhận thức, giáo dục, đào tạo liên quan đến quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt bao gồm chương trình quốc tế, quốc gia, tổ chức phi chính phủ, trường học, hội đoàn thể, với lực lượng chuyên gia, tình nguyện viên và các tài liệu.

e) Cơ sở pháp lý, quy định cộng đồng, quy chế, hương ước liên quan đến quản lý tổng hợp rác thải hộ gia đình. Hướng quản lý tổng hợp rác thải Hạ Long, Quảng Ninh theo cách tiếp cận vòng đời, 3 R và không rác thải nhựa đại dương được tập trung theo các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Tiếp cận quản lý tổng hợp rác thải theo vòng đời, 3 R và không rác thải nhựa đại dương. Địa phương đang thiếu một cách tiếp cận tổng hợp để có thể liên kết các nguồn lực, sắp xếp, phân bổ và điều phối hoạt động một cách nhịp nhàng theo quy luật chuyển biến của rác thải hay nói cách khác là theo con đường đi của rác và các lợi ích trách nhiệm của các bên liên quan một cách hài hòa – Quản lý tổng hợp rác thải và giảm thiểu rác thải nhựa đại dương.

Vì vậy để có thể giới thiệu cách tiếp cận này vào Hạ Long, Quảng Ninh, dự án có thể hướng theo một số mục tiêu (1) Một khung logic quản lý tổng hợp rác thải và giảm thiểu rác thải đại dương được xây dựng và thể hiện đầy đủ các mối quan hệ nội lực, con đường đi của rác, các hợp tác; (2) Một kế hoạch quản lý tổng hợp rác thải và giảm thiểu rác thải đại dương được xây dựng, trong đó có tầm nhìn, mục đích, mục tiêu, kết quả, phương pháp, kế hoạch hành động theo thời gian ngắn hạn và dài hạn, tài chính, giám sát, đánh giá, sự tham gia của cộng đồng. Trên cơ sở này có thể triển khai 3 pilot mô hình tại 3 địa phương để triển khai cụ thể các nhóm giải pháp theo kế hoạch bao gồm: Mô hình 1: Hộ gia đình, cơ sở kinh doanh, cơ quan trên cạn / Mô hình 2: Tàu thuyền du lịch / Mô hình 3: Tàu thuyền đánh cá. Đối với 3 mô hình này cần phân tích con đường đi của rác bao gồm rác phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý cuối cùng. Đồng thời đối với mỗi một giai đoạn: ví dụ như (a) Giai đoạn phát sinh sẽ là hộ gia đình, tàu thuyền, du khách, trường học, chợ với nhiệm vụ là gì? (b) Gia đoạn phân loại rác tại nguồn: Rác phân làm 3 loại: Rác dễ phân hủy (làm compost), rác khó phân hủy (lên bãi rác hoặc sau này có thể được đốt nếu có cộng nghệ tương thích, sạch), rác ve chai, tái chế: tài nguyên; (c) Giai đoạn thu gọm: Thu gom theo từng loại từ công ty, tổ tự quản, hoặc nhóm ve chai, hoặc làm compost hộ gia đình; (d) Giai đoạn xử lý cuối cùng: Rác phân hủy vào nhà máy compost hoặc làm phân compost hộ gia đình / rác ve chai, tái chế thì đến cơ sở thu mua phế liệu, đến nhà máy sản xuất / rác khó phân hủy thì đến bãi rác hợp vệ sinh hoặc lò đốt rác. Ngoài ra một phần quan trọng là rác không được thu gom: Rác tồn đọng trên đất liền, nơi công cộng / rác trôi nổi trên biển.

Mục tiêu 2: Xây dựng các mô hình thí điểm về quản lý tổng hợp rác thải theo hướng không rác thải nhựa đại dương

Từ phân tích khung logic trên, triển khai thực tiễn theo mô hình 1,2,3. Tuy nhiên trong mỗi mô hình, nên thảo luận với cộng đồng chọn một nhóm các bên liên quan nào hoặc một giai đoạn của vòng đời rác nào để đầu tư cơ sở vật chất thực hiện ví dụ: (a) Đối với mô hình 1: Tập trung đầu tư cho nhóm hộ gia đình về Phân loại rác tại nguồn như giỏ rác, hoặc giỏ đi chợ hoặc xây dựng MRF (trung tâm giáo dục cộng đồng về quản lý rác thải / hoặc tập trung vào nhóm các chị thu mua ve chai: đầu tư phương tiện xe đạp, xe đẩy, vay vốn..hoặc các cơ sở thu mua phế liệu nên đầu tư về quy hoạch kho xưởng, công nghệ; (b) Đối với mô hình 2: Tàu thuyền du lịch thì có thể thành lập tổ thu gom rác trên biển từ người ngư dân cho 2 mô hình du lịch và đánh cá / xây dựng quy chế / hoặc các máy thu gom rác tự động vì doanh nghiệp có thể đầu tư đóng góp; (c) Đối với mô hình 3: Thì có thể thành lập tổ thu gom rác biển với lao động là người đánh cá / trang bị thùng rác.

Mục tiêu 3: Nâng cao năng lực quản lý tổng hợp rác thải theo hướng không rác thải nhựa đại dương với các chú ý như sau: Đủ các thành phần tham gia: Nhà nước, Doanh nghiệp (doanh nghiệp xử lý, thu gom rác, doanh nghiệp kinh doanh khác…), Người dân / du khách, khoa học, bảo tồn, tổ tự quản, nhóm ve chai, nhóm thu mua phế liệu, nhóm tình nguyện viên, quốc tế, NGOs, nhóm cộng đồng tự nguyện thu gom rác tại bãi biển, trên biển, xóm làng, nhóm nghiên cứu.Đủ các giai đoạn của vòng đời rác: Phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý cuối cùng; Chia sẻ lợi ích, trách nhiệm giữa các thành phần; Công nghệ xử lý: lò đốt sạch, thân thiện môi trường / compost tập trung, hộ gia đình / tái chế / vật dụng thay thế, bãi rác hợp vệ sinh; Cơ chế điều phối; Tài chính bền vững.

IV. THẢO LUẬN

Lựa chọn hướng tiếp cận không rác thải - zero waste là một trong những hướng tiếp cận của quản lý rác thải sinh hoạt. Thông thường, quản lý rác thải được tiếp cận theo hướng truyền thống là làm mất rác thải đi, xóa chúng đi, hoặc không chấp nhận sự tồn tại của rác thải trong một phạm vi nào đó. Vì vậy, để làm sạch rác thải thường đề cập đến các nhóm giải đốt, chôn, đổ xuống biển, đổ ra đường.Tuy nhiên với cách tiếp cận này, rác thải thường là rác dễ phân hủy, hoặc nói cách khác là rác thải nhựa chưa được phát triển, hàng hóa làm bằng nhựa chưa xuất hiện nhiều. Thời kỳ sản phẩm nhựa ra đời một cách đa dạng về hình thức, kiểu mẫu, cùng với sự tiện ích, giá rẻ, hoặc tính chất dẻo dai, bền chặt, nhựa và sản phẩm nhựa nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. Rác thải mang yếu tố nhựa và rác thải nhựa nói riêng và rác thải nói chung được tiếp cận theo hướng tài nguyên, tái chế, tái sử dụng.Hướng đến không rác thải tương lai (Zero Waste) theo cộng đồng, làng quê, đô thị, thành phố cần được chọn làm định hướng cho quản lý rác thải hiện nay và tương lai. Tuy nhiên các khái niệm cũng như các tiêu chí về zero cho một địa phương, như cộng đồng, làng quê, đô thị, hoặc thành phố cần được thảo luận sát với bối cảnh thực tiễn.

Tiếp cận không rác thải tương lai dù là ở một phạm vi nào thì cũng cần những yêu cầu cơ bản như một kế hoạch tổng thể quản lý rác thải theo hướng quản lý tổng hợp và giảm thiểu với cộng đồng tham gia quản lý. Đồng thời địa phương đó nếu như giải pháp tham gia chỉ có duy nhất là tái chế thì không phải là zero waste, và phải là không vận động cho những giảm thiểu rác không tích cực như lò đốt.

V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Mô hình quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt theo cách tiếp cận vòng đời rác thải (con đường đi của rác) với các thông số giám sát theo zero waste và không nhựa (BFFP - Break Free From Plastic); 5 R – Giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, làm phân compost, từ chối cần được áp dụng theo các cấp độ một cộng đồng, làng quê, đô thị, thành phố. Vì vậy, đã đến lúc rác thải cần phải được quản lý theo phương thức tổng hợp và nhìn nhận đối tượng rác thải phải theo vòng đời bao gồm rác phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý.

Rác phát sinh phải được phân loại tại nguồn từ các như hộ gia đình, nhà hàng, khách sạn, quán ăn, chợ, trường học, cơ quan, nơi công cộng, ruộng đồng, bờ sông, bãi biển. Đồng thời các chủ thể của rác thải từ gia đình, người đi đường, du khách, người đi chợ, người buôn bán, nhân viên cơ quan, sinh viên học sinh cần được tham gia vào hoạt động quản lý rác thải.

Các công đoạn thu gom thường nhật, thu gom nơi công cộng, phong trào dọn vệ sinh môi trường, cũng như các nỗ lực giảm thiểu rác thải hướng đến zero waste, không rác thải nhựa, xây dựng kế hoạch quản lý rác thải và quy chế quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt phải được thể hiện thể hiện rõ ràng.

Quy trình xây dựng quản lý tổng hợp rác thải cần áp dụng các phương pháp cộng đồng như phân tích khung logic rác thải tại địa phương theo con đường đi của rác thải (vòng đời của rác) và tiếp cận ABCD (phát triển nguồn nội lực địa phương), phân tích DPSIR (dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, giải pháp), nguyên tắc SMART (cụ thể, lượng hóa, khả thi, hợp lý, thời gian) và ma trận SWOT (điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chu Mạnh Trinh, 2014, Xây dựng mô hình đồng quản lý rác thải tại 2 xã, phường Cẩm Hà và Cẩm Phô, thành phố Hội An. Mã số: KC.01.09. BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm Hội An.

[2] Chu Mạnh Trinh (2016), Ứng dụng luận điểm 4 cột trụ giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; Nghiên cứu trường hợp điển hình về hoạt động môi trường của sinh viên Đại học Quảng Nam cùng cộng đồng ở Hội An, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Quảng Nam, ISSN 0866-7586. Số 08/2016.

[3] Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2019, “Quản lý rác thải sinh hoạt Hội An, các hướng tiếp cận”, Tài liệu Hội thảo Quản lý rác thải, Tp. Phan Thiết, 28/6/2019, Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ Môi trường Toàn cầu, UNDP GEF SGP, Hà Nội, Việt Nam.

[4] UBND Tp. Hội An, 2018, Sách trắng rác thải thành phố Hội An, Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND Thành phố Hội An.

[5] UBND Tp. Hội An, 2019/QĐ-UBND, Quyết Định Kiện toàn Ban điều hành và các tổ chuyên môn chương trình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn thành phố Hội An, 11/8/2018, UBND Thành phố Hội An.

[6] Jane Singer, Kinh Thi Kieu, Andrea Emma Pravitasari, 2019, “Solid Waste Management in Tourist Destinations in Developing Nations: Case Studies in Hoi An, Vietnam, and Puncak, Indonesia”, Pages 189-206, Environmental Sustainability and Education for Waste Management, Implications for Policy and Practice, Winnie Wing Mui So,Cheuk Fai Chow, John Chi Kin Lee, 2019

Summary:

Report name:Household solid waste integrated management based on the life cycle and toward ocean plastic zero waste.

Case study: Hoi An, Sa Huynh, Ha Long

Author / authors: Chu Manh Trinh Agency of authors: Cham Islands Marine Protected Area, Hoi An, Quang Nam, Viet Nam.

Abstract: House hold solid waste is still daily being produced, graduatly increasing, due to the number of people disposing of, waste componet, demand, and packaging! Therefore, when do we have a community based waste management companion? If the community or city operator can get comprehensive picture onhow much waste is generated, what it constitutes, where the waste come from or going? Choosing an approach to solve this problem is an urgent need to harmonize with the current pressure by the backlog of waste and as well as on break free from plastic orientation for a community, village, urban area, and city.The paper presents the finding from the practical waste management study in Hoi An, Sa Huynh and Ha Long about the household solid waste integrated management, approach choosing, activities participating and discussing, as well as recommendation providing in the localities.

Key words: Integrated waste management; Path/life cycle of waste; Community involvement; Waste separation at source;

 
 

CÙ LAO CHÀM: HỆ SINH THÁI CỎ BIỂN

PDF.InEmail

Thứ tư, 06 Tháng 11 2019 16:14 Số truy cập:815

Thành phần và tầm quan trọng

Các nhà khoa học thế giới đã thống kê trong lòng đại dương của hành tinh chúng ta có khoảng hơn 60 loài cỏ biển (Seagrass).Biển Việt Nam có 14 loài cỏ biển (Nguyễn Văn Tiến và cs, 2004).So với các nước trong khu vực thì Việt Nam đứng thứ 3 về đa dạng các loài cỏ biển, chỉ sau Australia (20 loài) và Philipine (16 loài) (UNEP, 2004).

Theo các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học biển Cù Lao Chàm, thống kê cho thấy tại các khu vực biển ven bờ của Cù Lao Chàm có 05 loài cỏ biển, bao gồm: Cỏ xoan (Halophila major), Cỏ xoan đơn (H. decipiens), Cỏ kim (Halodule pinifolia), Cỏ hẹ ba răng (H. uninervis), Cỏ kiệu tròn (Cymodocea rotundata) [Nguyễn Văn Long, 2017].

Cỏ biển là những loài thực vật bậc cao, có hoa sống hoàn toàn trong môi trường nước mặn, lợ. Do hinh thái lá của cỏ biển có màu xanh, dài, hình xoan, mảnh như cỏ phân bố trên đất liền và phân bố thành “cánh đồng” dưới nền đáy nông nên người ta gọi chúng là các loài cỏ biển, thảm cỏ biển.

cobien1

Bàn mai sống trong thảm có biển tại Cù Lao Chàm.

Ảnh: Lê Xuân Ái, tháng 10/2017

Cỏ biển có nhu cầu quang hợp tương tự như các loài thực vật tự dưỡng khác nên chúng chỉ sống được ở những nơi có đầy đủ ánh sáng mặt trời và thường phân bố trên nền đáy cát hay bùn ở vùng nước nông ven bờ được che chắn và mọc thành từng bãi lớn đơn loài (chỉ gồm một loài cỏ) hoặc đa loài (gồm nhiều loài cỏ).

Cùng với các hệ sinh thái san hô, rừng ngập mặn, hệ sinh thái thảm cỏ biển đóng vai trò rất quan trọng trong cả hệ thống các hệ sinh thái ven biển rộng lớn và có mối tương tác qua lại với môi trường sống này. Các thảm cỏ biển được coi như một nguồn lợi biển quan trọng bởi khả năng ổn định nền đáy, tổng hợp các chất hữu cơ từ các chất vô cơ như cacbon, nitơ, oxy và phốt pho, tham gia vào chuỗi thức ăn, chu trình dinh dưỡng và là ngôi nhà chung cho nhiều loài có giá trị kinh tế cao.

cobien2

Hải sâm sinh sống trong Thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm.

Ảnh: Lê Xuân Ái, tháng 10/2017

Cỏ biển thường phát triển thành một cánh đồng rộng lớn, đó là môi trường sinh sống cho các loài động, thực vật biển. Tất cả các sinh vật này cùng với môi trường cỏ biển tạo nên hệ sinh thái cỏ biển vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó cỏ biển là sinh vật sản xuất đứng đầu các chuỗi thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các động vật biển khác. Sinh vật bám như tảo, vi khuẩn, nấm, động vật, là thành phần quan trọng của thảm cỏ biển. Chúng đóng góp một phần đáng kể cho dòng carbon tổng số trong thảm cỏ biển và trở nên có ý nghĩa sinh thái đối với vùng ven bờ nhiệt đới.Những nơi có thảm cỏ biển, số lượng loài cá nhiều hơn 5 lần so với trên nền đáy biển là bùn, xác sinh vật và cát. Các loài động vật thường gặp trong thảm cỏ biển gồm các loài cá, tôm, hải sâm, cầu gai, cua, điệp, vẹm và ốc.

Thảm cỏ biển có mối quan hệ mật thiết với các loài động vật lớn quý hiếm ở biển như Bò biển Dugong dugon (truyền thuyết hay gọi là nàng tiên cá) và các loài rùa biển. Mỗi ngày, một chú bò biển trưởng thành có thể ăn khoảng 28 đến 40 kg cỏ biển; một chú rùa biển trưởng thành cũng tiêu thụ khoảng 2 kg - hãy tưởng tượng nếu các thảm cỏ biển bị mất các loài động vật này sẽ chẳng còn gì để ăn nữa!

Hiện trạng thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm

Tại vùng biển nước ta, theo thống kê từ các tài liệu hiện có thì diện tích cỏ biển đang suy giảm từ 40% đến 50% bởi hàng loạt các tác động do con người gây ra (Nguyễn Hữu Đại và cs, 2002; Nguyễn Văn Tiến, 2004). Trong đó, vùng biển Khánh Hòa đã mất đi 30% trong vòng 5 năm từ năm 1997 đến 2002 (Nguyễn Hữu Đại và cs, 2006) do các hoạt động nuôi trồng thủy sản. Diện tích thảm cỏ biển vùng biển phía bắc giảm đi đến 90% do các hoạt động xây dựng phát triển ven bờ. Một số thảm cỏ biển Zostera japonica ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng đã bị biến mất hoàn toàn. Đây là loài cỏ biển ôn đới chỉ xuất hiện ở vùng biển Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Nhìn chung, các thảm cỏ biển rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường nước và chúng giảm đi nhanh chóng khi môi trường bị tác động mạnh.

cobien4

Thảm có biển tại Bãi Bấc Cù Lao Chàm bị ô nhiễm chất thải rắn

Ảnh: Lê Xuân Ái, 2017

Tương tự tại vùng biển Cù Lao Chàm - Quảng Nam, diện tích thảm cỏ biển bị suy giảm đáng báo động theo thời gian, từ 50 ha năm 2004 (Võ Sĩ Tuấn và cs, 2004); còn 37,1 ha (Nguyễn Văn Long và cs, 2008) đến năm 2016 chỉ còn 17 ha (Nguyễn Văn Long và cs, 2017). Như vậy trong vòng 12 năm từ 2004 đến 2016 thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm bị giảm 33 ha, chiếm hơn 66%.

Theo báo cáo kết quả giám sát cỏ biển tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm năm 2019, đánh giá chung độ phủ cỏ biển trung bình toàn vùng là 26,26% tăng 13,3% so với năm 2018; trong đó độ phủ cỏ biển tăng cao nhất tại khu vực Bãi Bắc (76,97%) và thấp nhất tại Bãi Bìm (11,97%), tại Bãi Ông và Bãi Hương (0%). Như vậy các thảm cỏ biển tại Bãi Ông 20 ha, Bãi Hương 8ha (Võ Sĩ Tuấn và cs, 2004) bị chôn vùi gần như bị xóa sổ hoàn toàn.

cobien5

 Thảm cỏ biển tại Bãi Bắc bị trốc cả thân ngầm

Ảnh: Lê Xuân Ái, 2017

Sự suy giảm và nguy cơ biến mất của các thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm vô cùng đáng lo ngại sẽ dẫn đến hậu quả “sức khỏe” của hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển và sinh kế của người dân vùng biển sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các loài sinh vật biển quý hiếm sống dựa vào nguồn dinh dưỡng từ cỏ biển như rùa biển, bò biển cũng bị đe dọa ảnh hưởng lớn và lâu dài đến kế hoạch bảo tồn và phục hồi loài rùa biển tại Cù Lao Chàm mà tỉnh Quảng Nam, thành phố Hội An đã chỉ đạo triển khai thực hiện.

Sự giảm sút các thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm về nguyên nhân chủ yếu là sự hoạt động của các ca nô cao tốc du lịch. Bãi Ông đã biến thành bến đưa, đón du khách, xây dựng cầu cảng tại Bãi Hương. Việc quy hoạch lại các điểm, tuyến du lịch biển, điều chỉnh quy hoạch bảo tồn biển, phục hồi lại các thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm là những nhiệm vụ cần được triển khai trong thời gian tới.

Lê Xuân Ái, tháng 10/2019

 
 

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẦN XÃ CÁ BỐNG Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN, THUỘC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI CÙ LAO CHÀM - HỘI AN

PDF.InEmail

Thứ tư, 24 Tháng 7 2019 09:56 Số truy cập:1320

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn thuộc địa phận thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một phần của Khu dự trữ sinh quyển thế giới (gọi tắt là KSQ) Cù Lao Chàm - Hội An, là nơi có hệ sinh thái phong phú từ hạ nguồn đến vùng cửa sông Cửa Đại. Các tư liệu nghiên cứu gần đây cho thấy khu vực này có sự hiện diện của một số loại sinh cư(habitats) điển hình quan trọng (rong biển, thảm cỏ biển, rừng dừa nước và vùng đáy mềm), là nơi tập trung của nhiều nhóm đối tượng nguồn lợi thủy sản có giá trị, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội địa phương thông qua việc duy trì sinh kế và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng [1], [2], trong đó nguồn lợi cá bống đóng vai trò khá quan trọng cả về sản lượng lẫn thu nhập.

Tuy nhiên, theo thông tin tham vấn cộng đồng năm 2015 trong khuôn khổ của Dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An” cho thấy sản lượng khai thác nguồn lợi này nói riêng và nguồn lợi thủy sản nói chung ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đang có xu hướng giảm dần do áp lực phát triển kinh tế xã hội gây nên các tác động bất lợi như khai thác hủy diệt và quá mức, diện tích sinh cư bị thu hẹp, chất lượng môi trường nước giảm,…Do đó, kết quả nghiên cứu về các đặc điểm của quần xã cá bống như phân bố, mùa vụ sinh sản,…tại khu vực này rất quan trọng,làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và khai thác tài nguyên một cách bền vững trong KSQ Cù Lao Chàm - Hội An.

Thành phần loài và phân bố [4]

Kết quả phân tích các mẫu cá bống thu được qua 2 đợt khảo sát (tháng 12/2015 và tháng 6/2016) tại 03 khu vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông (gradient) độ mặn tầng đáy, từ rất thấp (< 0,2%o; khu vực phường Thanh Hà) đến trung bình (< 13,3%o; khu vực phường Cẩm Nam) và cao (>18,3%o; khu vực xã Cẩm Thanh) (Lê Thị Vinh và cs., 2016) đã xác định được 14 loài thuộc 8 giống 2 họ cá bống Eleotridae và Gobiidae phân bố dọc vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Bảng 1) (Phụ lục).

cabong1

Hình 1. Vị trí các điểm thu mẫu cá

Bảng 1.Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

K: mùa khô; M: mùa mưa

cabong3

  *: Loài bổ sung từ nghiên cứu này.

So với những nghiên cứu trước đây của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010), Nguyen Thanh Nam (2012) và Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015), kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 4 loài cho khu vực này, trong đó họ cá bống đen có 1 loài (Oxyeleotris urophthalmus) và họ cá bống trắng có 3 loài (Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus và Oligolepis acutipennis).

Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt về phân bố thành phần loài giữa các khu vực theo mùa trong đó các loài Eleotris fusca, E. melanosoma, Acentrogobius nebulosus và Glossogobius aureus chỉ xuất hiện ở khu vực Cẩm Thanh vào mùa mưa. Đây là nhóm các loài thường hay sống ở vùng cửa sông ngập mặn [4]; loài Exyrias puntang chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa mưa; loài Oligolepis acutipennis chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa khô.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư [4]

Tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn, vào cả 2 mùa mưa và khô, giá trị độ pH và độ muối tăng dần từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh. Vào mùa mưa, tại khu vực Thanh Hà và Cẩm Nam hoàn toàn là nước ngọt, riêng tại khu vực Cẩm Thanh nước tầng đáy có độ mặn từ 17,3 – 19,6%o và pH từ 6,24 – 7,98..Vào mùa khô, hầu hết các nơi tại vùng này đều bị nhiễm mặn, độ mặn và pH tăng dần từ đầu vùng hạ lưu (Thanh Hà) tới vùng cửa sông (Cẩm Thanh), độ mặn ở tầng đáy tăng từ 0,25 – 19,3%o, pH tầng đáy tăng từ 7,27 – 7,91. Kết quả đo các yếu tố môi trường cho thấy tại khu vực nghiên cứu có sự thay đổi mạnh về pH và độ mặn theo 2 mùa giữa 3 khu vực thu mẫu. Do đó, 2 yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố thành phần loài giữa 3 khu vực thu mẫu.

Bảng 2. Ma trận phân tích CCA.

cabong4

Theo kết quả phân tích mối tương quan (CCA) giữa thành phần loài và độ phong phú của quần xã cá bống với 8 yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư (pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, bùn-cát và cát-bùn) cho thấy rằng sự phân bố của cá bống có mối quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối của các yếu tố nói trên (p = 0,006 < 0,05), trong đó các yếu tố đóng vai trò chi phối gồm pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, bùn-cát và cát-bùn (Hình 2).

cabong5

Hình 2. Mối tương quan giữa thành phần loài cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: pH, nhiệt độ (t), oxy hòa tan (DO), độ mặn (S), rong-cỏ nước ngọt (RC), bùn-cát (BC), cát-bùn (CB), dừa nước-cỏ biển (DC). Butbut: Butis butis, Exypun: Exyrias puntang, Glogiu: Glossogobius giuris, Glofap: Glossogobius fasciato-punctatus, Aceneb: Acentrogobius nebulosus, Oxymar: Oxyeleotris marmorata, Gloaur: Glossogobius aureus, Elemel: Eleotris melanosoma, Oxyten: Oxyeleotris tentacularis, Elefus: Eleotris fusca, Eleoxy: Eleotris oxycephala, Acecan: Acentrogobius caninus, Oxyuro: Oxyeleotris urophthalmus, Oliacu: Oligolepis acutipennis.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường và sinh cư được phân thành 4 nhóm sau:

- Nhóm các loài cá bống ít chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: Eleotris fusca, E. melanosoma, Oxyeleotris marmorata, Acentrogobius nebulosus, Glossogobius aureus, G. fasciato-punctatus và Oxyurichthys tentacularis.

- Nhóm các loài cá bống chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố là bùn-cát (BC) và oxy hòa tan (DO) gồm: Glossogobius giuris, Exyrias puntang và Butis butis. Tuy nhiên, các loài này chịu sự chi phối mạnh của yếu tố bùn-cát (BC) hơn DO, trong đó loài G. giuris chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất bởi yếu tố bùn-cát (BC).

- Nhóm các loài cá bống chịu sự chi phối của yếu tố cát-bùn (CB) gồm: Acentrogobius caninus, Oxyeleotris urophthalmus và Oligolepis acutipennis. Trong đó, loài A.caninus chịu sự chi phối của cát-bùn (CB) hơn hai loài còn lại.

- Nhóm chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố gồm pH, nhiệt độ (t), độ mặn (S)và rong-cỏ nước ngọt (RC): ở nhóm này chỉ có một loài duy nhất chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố môi trường trên đó là Eleotris oxycephala.

Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm yếu tố lại cho thấy chỉ có 4 yếu tố có giá trị Eigenvalue (%) cao và p < 0,05 (gồm pH, DO, độ mặn và rong-cỏ nước ngọt) đóng vai trò quan trọng nhất chi phối sự phân bố của quần xã cá bống trong khu vực nghiên cứu (Bảng 2). Riêng giá trị eigen (Eigenvalue) của yếu tố nhiệt độ tuy cao thứ nhì (22,6%) nhưng giá trị p > 0,05 nên không ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố thành phần loài cá bống. Có thể tại khu vực nghiên cứu, nhiệt độ môi trường nước không có sự biến động nhiều giữa các khu vực và giữa 2 mùa nên các loài cá bống ít chịu sự chi phối của yếu tố nhiệt độ.

Đặc điểm sinh sản của loài cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) [3]

Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát ở giai đoạn IV đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 (chiếm 12,5%), trong các tháng 1, 2, 9 và 11 không thấy xuất hiện buồng trứng ở giai đoạn IV hoặc xuất hiện với tỉ lệ rất thấp (1,11%)(Hình3).

Trong quá trình thu mẫu và phân tích không thấy buồng trứng ở giai đoạn V, có thể đây là giai đoạn cá tham gia sinh sản nên rất khó phát hiện ở giai đoạn này.

cabong6

Hình 3. Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn

Kết quả thu mẫu và phân tích cho thấy trong tháng 3 và tháng 10 phát hiện được mẫu tinh sào ở giai đoạn IV nhưng chiếm tỷ lệ rất thấp 1,39% và 2,22%(Hình4).

cabong7

Hình 4. Tỷ lệ các GĐTT của tinh sào cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Như vậy, qua kết quả phân tích có thể dự đoán mùa vụ sinh sản tập trung của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm. So sánh kết quả phân tích mẫu tuyến sinh dục từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thành thục sinh dục giữa 3 khu vực trong cùng thời điểm từ tháng 1 đến tháng 8. Tuy nhiên, kết quả thu mẫu từ tháng 9 đến tháng 11 cho thấy tỷ lệ buồng trứng ở giai đoạn IV tại khu vực Cẩm Thanh cao hơn gấp 2 đến 3 lần hai khu vực còn lại (Cẩm Nam và Thanh Hà), đặc biệt trong tháng 9 và tháng 11 buồng trứng giai đoạn IV chỉ phát hiện ở Cẩm Thanh (chiếm 3,45%) (Hình 5 và Hình 6)

Đối chiếu với các thông số môi trường đo đạc tại 3 khu vực cho thấy vào mùa khô nước cả 3 khu vực đều bị nhiễm mặn, nhưng vào mùa mưa chỉ có khu vực Cẩm Thanh là nước bị nhiễm mặn. Như vậy, sự thành thục sinh dục của cá bống cát thường tập trung ở khu vực có độ mặn cao hơn.

cabong8

Hình 5. Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát giai đoạn IV tại 3 khu vực thu mẫu.

cabong9

Hình 6. Tỷ lệ buồng tinh cá bống cát giai đoạn III & IV tại 3 khu vực thu mẫu.

So sánh với kết quả nghiên cứu về sinh sản của cá bống cát của Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định (2013) thực hiện ở Cần Thơ cho thấy sự khác biệt về mùa vụ sinh sản giữa hai khu vực. Ở Cần Thơ, cá bống cát thành thục sinh dục và tham gia sinh sản từ tháng 9 đến tháng 10 và giảm dần ở các tháng tiếp theo; trong khi ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn là từ tháng 3 đến tháng 8 và giảm dần ở các tháng tiếp theo.

Về phương pháp thực hiện, ở nghiên cứu tại Cần Thơ thời gian thực hiện nghiên cứu chỉ kéo dài từ tháng 9/2011 đến tháng 2/2012, như vậy nhóm tác giả đã chưa nghiên cứu được đặc điểm sinh học của cá trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm. Qua 11 tháng thu mẫu phân tích, kết quả nghiên cứu cho thấy cá bống cát có giá trị GSI cao nhất vào tháng 3, tiếp theo là tháng 8 và giảm dần vào các tháng tiếp theo, thấp nhất vào tháng 11. Trong quá trình thu mẫu, ở các tháng 11 đến tháng 2 hầu như chỉ thu được cá bống ở giai đoạn I và II, rất hiếm khi bắt gặp giai đoạn III và gần như không có giai đoạn IV, nên hệ số GSI ở các tháng này rất thấp. Trong tháng 3, các mẫu cá bống ở giai đoạn III và IV thu được chiếm tỷ lệ rất cao (13,9% và 12,5%) nên có hệ số GSI cao nhất (Hình7). Thông tin tham vấn từ ngư dân khai thác tại khu vực nghiên cứu thì cá bống cát mang trứng thườngxuất hiện nhiều vào khoảng tháng 3 đến tháng 7. Do đó có thể nhận định mùa vụ sinh sản của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm.

cabong10

Hình 7. Hệ số thành thục sinh dục GSI (%) của cá bống cát.

Sức sinh sản tuyệt đối của cá bống cát dao động từ 15.555 đến 76.861 trứng/cá thể, trung bình đạt 32.246± 18.799 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g, trung bình đạt 3.379 ± 877 trứng/g. Dựa vào Hình 8 có thể thấy khối lượng cơ thể cá ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá. Mối tương quan giữa hai đại lượng này được thể hiện bằng phương trình F = 6242W – 23778 với hệ số tương quan R2 = 0,9116. Qua phương trình trên cho thấy rằng khi khối lượng thân cá tăng lên thì sức sinh sản tuyệt đối của cá cũng tăng theo.

cabong11

Hình 8. Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng cơ thể.

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 14 loài cá bống thuộc 8 giống của 2 họ cá bống đen Eleotridae (6 loài) và họ cá bống trắng Gobiidae (8 loài), trong đó có 4 loài (Oxyeleotris urophthalmus, Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus và Oligolepis acutipennis) được bổ sung cho khu hệ cá ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Có sự khác biệt về tính chất phân bố thành phần loài cá bống theo không gian và thời gian, trong đó khu vực nước có độ mặn cao (Cẩm Thanh) có số lượng loài cao hơn so với khu vực có độ mặn trung bình (Cẩm Nam) và độ mặn thấp (Thanh Hà); và mùa mưa cao hơn so với mùa khô.

Sự phân bố của quần xã cá bống có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường và sinh cư, trong đó pH, oxy hòa tan, độ mặn và độ phủ rong-cỏ nước ngọt là những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất.

Mùa vụ sinh sản của cá bống cát tập trung từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm với sức sinh sản tuyệt đối dao động trong khoảng 15.555 - 76.861 trứng/cá thể (trung bình: 32.246 ± 18.799 trứng/cá thể) và sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g trọng lượng cá (trung bình: 3.379 ± 877 trứng/g). Hệ số thành thục sinh dục của cá bống cát đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 11.

Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB Cù Lao Chàm

Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Hữu Đại, Donald Macintosh, 2008. Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước (chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn (Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ, phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 8: 51-66.

2. Phạm Viết Tích, 2009. Khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Quảng Nam. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh lưu trữ tại Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam. 160 trang.

3. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2017. Đặc điểm sinh sản cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 17, Số 4A.

4. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2018. Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 161-165.

5. Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo, Bùi Thị Ngọc Nở, Võ Văn Quang, 2015. Kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 15(1): 55-60.

6. Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định, 2013. Một số đặc điểm sinh sản của cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học trường đại học Cần Thơ, Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ sinh học 27, tr.161-168.

7.Lê Thị Vinh, Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Thu, Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng, Võ Hải Thi, Phạm Hồng Ngọc, Lê Hồng Phú, 2016. Chất lượng môi trường nước tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm-Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tuyển tập Nghiên cứu Biển, 22: 29-37.5.

8. Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, 2010. Thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia tỉnh Quảng Nam. Tạp chí sinh học, 32 (2): 12-20.

9. Nguyen Thanh Nam, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Xuan Huan, 2012. Composition of fish species at Cua Dai estuary, Vu Gia – Thu Bon river system, Quang Nam province. VNU Journal of Science, Natural Sciences and Technology, 28(2S): 25-33.

Phụ lục 

cabong12cabong13

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn thuộc địa phận thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một phần của Khu dự trữ sinh quyển thế giới (gọi tắt là KSQ) Cù Lao Chàm - Hội An, là nơi có hệ sinh thái phong phú từ hạ nguồn đến vùng cửa sông Cửa Đại. Các tư liệu nghiên cứu gần đây cho thấy khu vực này có sự hiện diện của một số loại sinh cư(habitats) điển hình quan trọng (rong biển, thảm cỏ biển, rừng dừa nước và vùng đáy mềm), là nơi tập trung của nhiều nhóm đối tượng nguồn lợi thủy sản có giá trị, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội địa phương thông qua việc duy trì sinh kế và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng [1], [2], trong đó nguồn lợi cá bống đóng vai trò khá quan trọng cả về sản lượng lẫn thu nhập.

Tuy nhiên, theo thông tin tham vấn cộng đồng năm 2015 trong khuôn khổ của Dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An” cho thấy sản lượng khai thác nguồn lợi này nói riêng và nguồn lợi thủy sản nói chung ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đang có xu hướng giảm dần do áp lực phát triển kinh tế xã hội gây nên các tác động bất lợi như khai thác hủy diệt và quá mức, diện tích sinh cư bị thu hẹp, chất lượng môi trường nước giảm,…Do đó, kết quả nghiên cứu về các đặc điểm của quần xã cá bống như phân bố, mùa vụ sinh sản,…tại khu vực này rất quan trọng,làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và khai thác tài nguyên một cách bền vững trong KSQ Cù Lao Chàm - Hội An.

Thành phần loài và phân bố [4]

Kết quả phân tích các mẫu cá bống thu được qua 2 đợt khảo sát (tháng 12/2015 và tháng 6/2016) tại 03 khu vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông (gradient) độ mặn tầng đáy, từ rất thấp (< 0,2%o; khu vực phường Thanh Hà) đến trung bình (< 13,3%o; khu vực phường Cẩm Nam) và cao (>18,3%o; khu vực xã Cẩm Thanh) (Lê Thị Vinh và cs., 2016) đã xác định được 14 loài thuộc 8 giống 2 họ cá bống Eleotridae và Gobiidae phân bố dọc vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Bảng 1) (Phụ lục).

 

Hình 1. Vị trí các điểm thu mẫu cá

Bảng 1.Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

K: mùa khô; M: mùa mưa

TT

Tên loài

Tên thường gọi

Tên địa phương

Thanh Hà

Cẩm Nam

Cẩm Thanh

K

M

K

M

K

M

 

Họ Eleotridae

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Butis butis (Hamilton, 1822)

Bống cấu

Bống cầu

 

x

 

x

 

x

2

Eleotris fusca (Forster, 1801)

Bống đen

Bống đen rong

 

 

 

 

 

x

3

Eleotris melanosoma Bleeker, 1852

Bống đen mêla

Bống mủ

 

 

 

 

 

x

4

Eleotris oxycephala Temminck & Schlegel, 1845

Bống đen oxi

Bống mú đen

x

x

x

x

x

 

5

Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)

Bống tượng

Bống tượng

 

x

 

x

x

x

6

Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)* 

Bống dừa

Bống dừa

x

 

x

 

x

x

 

Họ Gobiidae

 

 

 

 

 

 

 

 

7

Acentrogobius caninus (Cuvier & Valenciennes, 1837) 

Bống tro, bống chấm

Bống hoa

x

x

 

 

 

x

8

Acentrogobius nebulosus (Forsskål, 1775)

 

Bống say

 

 

 

 

 

x

9

Exyrias puntang (Bleeker, 1851) * 

 

Bống mè

 

x

 

 

 

 

10

Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975

Bống cát

Bống cát

 

 

 

 

 

x

11

Glossogobius fasciato-punctatus (Richardson, 1836)*

Bống chấm gáy

Bống găm hồ

 

x

 

 

 

x

12

Glossogobius giuris (Hamilton, 1822)

Bống cát

Bống găm, bống nhọn, bống cát

x

x

x

x

x

x

13

Oxyurichthys tentacularis(Valenciennes, 1837)

Bống vảy nhỏ

Bống thệ, bống thệ quát

 

x

x

x

 

x

14

Oligolepis acutipennis (Valenciennes, 1837)*

Bống vân ngang

 

x

 

 

 

 

 

 

TỔNG SỐ

 

 

5

8

4

5

4

11

*: Loài bổ sung từ nghiên cứu này.

So với những nghiên cứu trước đây của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010), Nguyen Thanh Nam (2012) và Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015), kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 4 loài cho khu vực này, trong đó họ cá bống đen có 1 loài (Oxyeleotris urophthalmus) và họ cá bống trắng có 3 loài (Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus Oligolepis acutipennis).

Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt về phân bố thành phần loài giữa các khu vực theo mùa trong đó các loài Eleotris fusca, E. melanosoma, Acentrogobius nebulosus Glossogobius aureus chỉ xuất hiện ở khu vực Cẩm Thanh vào mùa mưa. Đây là nhóm các loài thường hay sống ở vùng cửa sông ngập mặn [4]; loài Exyrias puntang chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa mưa; loài Oligolepis acutipennis chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa khô.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư [4]

Tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn, vào cả 2 mùa mưa và khô, giá trị độ pH và độ muối tăng dần từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh. Vào mùa mưa, tại khu vực Thanh Hà và Cẩm Nam hoàn toàn là nước ngọt, riêng tại khu vực Cẩm Thanh nước tầng đáy có độ mặn từ 17,3 – 19,6%o và pH từ 6,24 – 7,98..Vào mùa khô, hầu hết các nơi tại vùng này đều bị nhiễm mặn, độ mặn và pH tăng dần từ đầu vùng hạ lưu (Thanh Hà) tới vùng cửa sông (Cẩm Thanh), độ mặn ở tầng đáy tăng từ 0,25 – 19,3%o, pH tầng đáy tăng từ 7,27 – 7,91. Kết quả đo các yếu tố môi trường cho thấy tại khu vực nghiên cứu có sự thay đổi mạnh về pH và độ mặn theo 2 mùa giữa 3 khu vực thu mẫu. Do đó, 2 yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố thành phần loài giữa 3 khu vực thu mẫu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảng 2. Ma trận phân tích CCA.

Yếu tố môi trường

Eigenval

%

p

pH

0.3817

42.43

0.011

Nhiệt độ

0.2033

22.6

0.199

DO

0.1596

17.74

0.026

Độ mặn

0.09453

10.51

0.019

Rong-cỏ nước ngọt

0.05532

6.149

0.016

Dừa nước-cỏ biển

9.89E-18

1.10E-15

0.709

Bùn-cát

0.005138

0.5711

0.918

Cát-bùn

9.26E-08

1.03E-05

0.902

 

Theo kết quả phân tích mối tương quan (CCA) giữa thành phần loài và độ phong phú của quần xã cá bống với 8 yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư (pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, bùn-cát và cát-bùn) cho thấy rằng sự phân bố của cá bống có mối quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối của các yếu tố nói trên (p = 0,006 < 0,05), trong đó các yếu tố đóng vai trò chi phối gồm pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, bùn-cát và cát-bùn (Hình 1).

 

Hình 1. Mối tương quan giữa thành phần loài cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: pH, nhiệt độ (t), oxy hòa tan (DO), độ mặn (S), rong-cỏ nước ngọt (RC), bùn-cát (BC), cát-bùn (CB), dừa nước-cỏ biển (DC). Butbut: Butis butis, Exypun: Exyrias puntang, Glogiu: Glossogobius giuris, Glofap: Glossogobius fasciato-punctatus, Aceneb: Acentrogobius nebulosus, Oxymar: Oxyeleotris marmorata, Gloaur: Glossogobius aureus, Elemel: Eleotris melanosoma, Oxyten: Oxyeleotris tentacularis, Elefus: Eleotris fusca,  Eleoxy: Eleotris oxycephala, Acecan: Acentrogobius caninus, Oxyuro: Oxyeleotris urophthalmus,  Oliacu: Oligolepis acutipennis.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường và sinh cư được phân thành 4 nhóm sau:

-            Nhóm các loài cá bống ít chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: Eleotris fusca, E. melanosoma, Oxyeleotris marmorata, Acentrogobius nebulosus, Glossogobius aureus, G. fasciato-punctatus Oxyurichthys tentacularis.

-            Nhóm các loài cá bống chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố là bùn-cát (BC) và oxy hòa tan (DO) gồm: Glossogobius giuris, Exyrias puntang và Butis butis. Tuy nhiên, các loài này chịu sự chi phối mạnh của yếu tố bùn-cát (BC) hơn DO, trong đó loài G. giuris chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất bởi yếu tố bùn-cát (BC).

-            Nhóm các loài cá bống chịu sự chi phối của yếu tố cát-bùn (CB) gồm: Acentrogobius caninus, Oxyeleotris urophthalmus và Oligolepis acutipennis. Trong đó, loài A.caninus chịu sự chi phối của cát-bùn (CB) hơn hai loài còn lại.

-            Nhóm chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố gồm pH, nhiệt độ (t), độ mặn (S)và rong-cỏ nước ngọt (RC): ở nhóm này chỉ có một loài duy nhất chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố môi trường trên đó là Eleotris oxycephala.

Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm yếu tố lại cho thấy chỉ có 4 yếu tố có giá trị Eigenvalue (%) cao và p < 0,05 (gồm pH, DO, độ mặn và rong-cỏ nước ngọt) đóng vai trò quan trọng nhất chi phối sự phân bố của quần xã cá bống trong khu vực nghiên cứu  (Bảng 2). Riêng giá trị eigen (Eigenvalue) của yếu tố nhiệt độ tuy cao thứ nhì (22,6%) nhưng giá trị p > 0,05 nên không ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố thành phần loài cá bống. Có thể tại khu vực nghiên cứu, nhiệt độ môi trường nước không có sự biến động nhiều giữa các khu vực và giữa 2 mùa nên các loài cá bống ít chịu sự chi phối của yếu tố nhiệt độ.

Đặc điểm sinh sản của loài cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) [3]

Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát ở giai đoạn IV đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 (chiếm 12,5%), trong các tháng 1, 2, 9 và 11 không thấy xuất hiện buồng trứng ở giai đoạn IV hoặc xuất hiện với tỉ lệ rất thấp (1,11%)(Hình2).

Trong quá trình thu mẫu và phân tích không thấy buồng trứng ở giai đoạn V, có thể đây là giai đoạn cá tham gia sinh sản nên rất khó phát hiện ở giai đoạn này.

 

Hình 2. Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn

Kết quả thu mẫu và phân tích cho thấy trong tháng 3 và tháng 10 phát hiện được mẫu tinh sào ở giai đoạn IV nhưng chiếm tỷ lệ rất thấp 1,39% và 2,22%(Hình3).

 

Hình 3. Tỷ lệ các GĐTT của tinh sào cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Như vậy, qua kết quả phân tích có thể dự đoán mùa vụ sinh sản tập trung của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm.

So sánh kết quả phân tích mẫu tuyến sinh dục từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thành thục sinh dục giữa 3 khu vực trong cùng thời điểm từ tháng 1 đến tháng 8. Tuy nhiên, kết quả thu mẫu từ tháng 9 đến tháng 11 cho thấy tỷ lệ buồng trứng ở giai đoạn IV tại khu vực Cẩm Thanh cao hơn gấp 2 đến 3 lần hai khu vực còn lại (Cẩm Nam và Thanh Hà), đặc biệt trong tháng 9 và tháng 11 buồng trứng giai đoạn IV chỉ phát hiện ở Cẩm Thanh (chiếm 3,45%) (Hình 4 và Hình 5)

Đối chiếu với các thông số môi trường đo đạc tại 3 khu vực cho thấy vào mùa khô nước cả 3 khu vực đều bị nhiễm mặn, nhưng vào mùa mưa chỉ có khu vực Cẩm Thanh là nước bị nhiễm mặn. Như vậy, sự thành thục sinh dục của cá bống cát thường tập trung ở khu vực có độ mặn cao hơn.

 

Hình 4. Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát giai đoạn IV tại 3 khu vực thu mẫu.

 

Hình 5. Tỷ lệ buồng tinh cá bống cát giai đoạn III & IV tại 3 khu vực thu mẫu.

So sánh với kết quả nghiên cứu về sinh sản của cá bống cát của Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định (2013) thực hiện ở Cần Thơ cho thấy sự khác biệt về mùa vụ sinh sản giữa hai khu vực. Ở Cần Thơ, cá bống cát thành thục sinh dục và tham gia sinh sản từ tháng 9 đến tháng 10 và giảm dần ở các tháng tiếp theo; trong khi ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn là từ tháng 3 đến tháng 8 và giảm dần ở các tháng tiếp theo. Về phương pháp thực hiện, ở nghiên cứu tại Cần Thơ thời gian thực hiện nghiên cứu chỉ kéo dài từ tháng 9/2011 đến tháng 2/2012, như vậy nhóm tác giả đã chưa nghiên cứu được đặc điểm sinh học của cá trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm.

Qua 11 tháng thu mẫu phân tích, kết quả nghiên cứu cho thấy cá bống cát có giá trị GSI cao nhất vào tháng 3, tiếp theo là tháng 8 và giảm dần vào các tháng tiếp theo, thấp nhất vào tháng 11. Trong quá trình thu mẫu, ở các tháng 11 đến tháng 2 hầu như chỉ thu được cá bống ở giai đoạn I và II, rất hiếm khi bắt gặp giai đoạn III và gần như không có giai đoạn IV, nên hệ số GSI ở các tháng này rất thấp. Trong tháng 3, các mẫu cá bống ở giai đoạn III và IV thu được chiếm tỷ lệ rất cao (13,9% và 12,5%) nên có hệ số GSI cao nhất (Hình6). Thông tin tham vấn từ ngư dân khai thác tại khu vực nghiên cứu thì cá bống cát mang trứng thườngxuất hiện nhiều vào khoảng tháng 3 đến tháng 7. Do đó có thể nhận định mùa vụ sinh sản của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm.

 

Hình6. Hệ số thành thục sinh dục GSI (%) của cá bống cát.

Sức sinh sản tuyệt đối của cá bống cát dao động từ 15.555 đến 76.861 trứng/cá thể, trung bình đạt 32.246± 18.799 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g, trung bình đạt 3.379 ± 877 trứng/g. Dựa vào Hình7 có thể thấy khối lượng cơ thể cá ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá. Mối tương quan giữa hai đại lượng này được thể hiện bằng phương trình F = 6242W – 23778 với hệ số tương quan R2 = 0,9116. Qua phương trình trên cho thấy rằng khi khối lượng thân cá tăng lên thì sức sinh sản tuyệt đối của cá cũng tăng theo.

 

Hình7. Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng cơ thể.

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 14 loài cá bống thuộc 8 giống của 2 họ cá bống đen Eleotridae (6 loài) và họ cá bống trắng Gobiidae (8 loài), trong đó có 4 loài (Oxyeleotris urophthalmus, Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus Oligolepis acutipennis) được bổ sung cho khu hệ cá ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Có sự khác biệt về tính chất phân bố thành phần loài cá bống theo không gian và thời gian, trong đó khu vực nước có độ mặn cao (Cẩm Thanh) có số lượng loài cao hơn so với khu vực có độ mặn trung bình (Cẩm Nam) và độ mặn thấp (Thanh Hà); và mùa mưa cao hơn so với mùa khô.

Sự phân bố của quần xã cá bống có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường và sinh cư, trong đó pH, oxy hòa tan, độ mặn và độ phủ rong-cỏ nước ngọt là những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất.

Mùa vụ sinh sản của cá bống cát tập trung từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm với sức sinh sản tuyệt đối dao động trong khoảng 15.555 - 76.861 trứng/cá thể (trung bình: 32.246 ± 18.799 trứng/cá thể) và sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g trọng lượng cá (trung bình: 3.379 ± 877 trứng/g). Hệ số thành thục sinh dục của cá bống cát đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 11.

Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB Cù Lao Chàm

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Hữu Đại, Donald Macintosh, 2008. Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước (chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn (Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ, phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 8: 51-66.

2. Nguyễn Viết Tích, 2009. Khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Quảng Nam. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh lưu trữ tại Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam. 160 trang.

3. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2017. Đặc điểm sinh sản cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 17, Số 4A.

4. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2018. Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 161-165.

5. Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo, Bùi Thị Ngọc Nở, Võ Văn Quang, 2015. Kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 15(1): 55-60.

6. Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định, 2013. Một số đặc điểm sinh sản của cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học trường đại học Cần Thơ, Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ sinh học 27, tr.161-168.

7.Lê Thị Vinh, Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Thu, Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng, Võ Hải Thi, Phạm Hồng Ngọc, Lê Hồng Phú, 2016. Chất lượng môi trường nước tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm-Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tuyển tập Nghiên cứu Biển, 22: 29-37.5.

8. Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, 2010. Thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia tỉnh Quảng Nam. Tạp chí sinh học, 32 (2): 12-20.

9. Nguyen Thanh Nam, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Xuan Huan, 2012. Composition of fish species at Cua Dai estuary, Vu Gia – Thu Bon river system, Quang Nam province. VNU Journal of Science, Natural Sciences and Technology, 28(2S): 25-33.

Phụ lục

 

Butis butis

 

Eleotris fusca

 

 

Eleotris melanosoma

 

Eleotris oxycephala

 

Oxyeleotris marmorata

 

Oxyeleotris urophthalmus

 

Acentrogobius caninus

 

Acentrogobius nebulosus

 

Exyrias puntang

 

 

Glossogobius aureus

 

Glossogobius fasciato-punctatus

 

Glossogobius giuris

 

Oxyurichthys tentacularis

 

Oligolepis acutipennis

 

 

 

 

 
 

Trang 1 trong tổng số 11

...