Nghiên cứu phát triển

Giải pháp tài chính bền vững cho các Khu bảo tồn biển Trường hợp nghiên cứu: Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ hai, 30 Tháng 10 2017 09:26 Số truy cập:474

Abstract

Khu Bảo tồn biển là công cụ hữu hiệu trong việc giảm thiểu sự suy giảm nguồn lợi do tác động của hoạt động khai thác, phục hồi sức khỏe các hệ sinh thái biển, cải thiện sinh kế cộng đồng người dân địa phương, góp phần phát triển kinh tế xã hội và gần đây nhiều nghiên cứu cũng đã nhận ra vai trò của nó trong việc thích ứng với tác động biến đổi khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, để vận hành hiệu quả một khu bảo tồn biển thực tế là việc không nhẹ nhàng, điều này dễ dàng nhận ra theo hệ thống các khu bảo tồn biển trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Có nhiều yếu tố liên quan đến vận hành hiệu quả một khu bảo tồn biển, tuy nhiên giải pháp tài chính bền vững là một trong những yếu tố quan trọng và thường gặp khi đối thoại với các khu bảo tồn biển về khó khăn và thách thức mà các khu này thường gặp. Thông qua thực tiễn quản lý tại các khu bảo tồn biển và đặc biệt tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, bài học kinh nghiệm được đúc kết về giải pháp tài chính bền vững cần được hiểu một cách hệ thống về giá trị dịch vụ sinh thái mà các khu bảo tồn biển được quản lý một cách hiệu quả mang lại, các nhu cầu sử dụng các giá trị dịch vụ này và cuối cùng một nguyên tắc là người sử dụng dịch vụ phải trả tiền. Đồng thời nguồn tài chính thu được từ sự gia tăng giá trị lợi ích sinh thái cần phải được sử dụng vào tái đầu tư hỗ trợ cho cải thiện sức khỏe hệ sinh thái mà khu bảo tồn biển đang bảo vệ và sử dụng một cách bền vững. Sự khỏe mạnh của các hệ sinh thái biển và bờ liên quan của khu bảo tồn biển là nguồn lực bền vững làm cơ sở tạo nên tài chính cho hoạt động bảo tồn tại đây. Bài trình bày được giới thiệu thông qua các nội dung: a) Nhu cầu cần được quản lý tổng hợp các khu bảo tồn biển; b) Tổ chức điều phối để đáp ứng được chất lượng của quản lý tổng hợp; c) Hoạt động điều phối trong quá trình quản lý tổng hợp các khu bảo tồn biển; d) Chi phí và lợi ích của quá trình quản lý tổng hợp; e) Các nguồn lực đầu vào của quá trình quản lý tổng hợp; g) Doanh nghiệp bảo tồn; h) Hoạt động giám sát đánh giá kết quả hoạt động doanh nghiệp bảo tồn; và i) Kết luận.

1) Nhu cầu cần được quản lý tổng hợp tại các khu bảo tồn biển

Chúng ta đã trao đổi rất nhiều về quan điểm phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường mà cụ thể là khai thác và sử dụng nguồn lợi đã và đang thực hiện tại các khu bảo tồn biển. Chúng ta cũng đã trao đổi về ứng xử của con người với thiên nhiên sao cho đạt được lợi ích cao nhất. Và cũng từ đó chúng ta đã và đang có các đề tài về phát triển bền vững như về sự liên kết, cơ chế chia sẻ lợi ích đảm bảo giữa ba cột trụ là Kinh tế, Môi trường và Xã hội. Hiện tại chúng ta đang tập trung khai thác các lợi ích của tài nguyên thiên nhiên mang lại mà cụ thể là rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, rừng ngập mặn, vùng cửa sông thông qua các nguồn lợi như cá tôm, cảnh quan dưới nước, trên cạn, cùng với các yếu tố xã hội như đời sống và văn hóa cộng đồng ngư dân. Cũng chính vì vậy, chúng ta đã và đang cố gắng triển khai và tăng cường triển khai, khai thác các lợi ích này thông qua việc mở thêm các dịch vụ kinh tế mà thường là các dịch vụ du lịch (ở đây là dịch vụ của con người chứ không phải là dịch vụ của thiên nhiên). Có nghĩa là chúng ta đang cố gắng tối đa, sáng tạo tối đa các hình thức để con người hưởng thụ tối đa các lợi ích mà thiên nhiên mang lại.

Trong thời gian qua, chúng ta chưa đề cập đến các dịch vụ của hệ sinh thái (thiên nhiên) mang lại cho chúng ta, như chất lượng nguồn nước, điều hòa khí hậu, vùng giống, nơi ở, chống xói lở, bãi đẻ, duy trì nguồn lợi, tạo cảnh quan. Chúng ta cũng chưa đề cập hoặc rất ít đề cập đến chức năng cung cấp thông qua cấu trúc hệ sinh thái, như các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng thường xanh trên núi. Trong khi cấu trúc hệ sinh thái là nền tảng của sự hình thành các chức năng dịch vụ của hệ sinh thái và là tiền đề của các lợi ích mà hệ sinh thái (thiên nhiên) mang lại cho chúng ta. Một khi cấu trúc hệ sinh thái bị phá vỡ thì chúng ta phải mất hàng chục hoặc trăm năm mới gầy dựng lại được, đôi khi mất vĩnh viễn như rừng ngập mặn bị san lấp, rạn san hô bị chết, bãi biển bị xói lở. Hiện nay cấu trúc hệ sinh thái và sức khỏe hệ sinh thái như rạn san hô, thàm cỏ biển, rừng ngập mặn, bãi biển, vùng cửa sông tại các khu bảo tồn biển hoặc các vùng lân cận đã và đang bị uy hiếp, tổn thương ngày một trầm trọng. Chúng ta có thể nhận thấy điều này môt cách dễ dàng qua quan sát, qua các kết quả nghiên cứu, đánh giá chất lượng môi trường và đa dạng sinh học.

Vì vậy không phải là quá muộn mà cũng không phải là quá sớm để thảo luận và có giải pháp hành động vì sự phát triển và sử sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường tại các khu bảo tồn biển này. Tuy nhiên cũng sẽ là quá trễ nếu chúng ta không hành động bây giờ vì các tác động bao giờ cũng mang tính tích lũy, thông qua các sự cố (shock) và ảnh hưởng diễn biến (stress). Chúng ta cần phải có một cách tiếp cận phù hợp, ứng xử phù hợp với thiên nhiên. Một trong những định hướng đó là đã đến lúc con người phải hợp tác lại, cùng đồng hành trong quản lý và bảo vệ thiên nhiên.

2) Tổ chức điều phối để đáp ứng được chất lượng của quản lý tổng hợp

Hỗ trợ cho quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường tại các khu bảo tồn biển, một sự điều phối liên ngành được hình thành. Sự điều phối đó đòi hỏi sự quan tâm tích cực vào các cột trụ môi trường, xã hội và kinh tế hay nói cách khác một định hướng vào sự phát triển bền vững trong tương lai. Trên nền tài nguyên môi trường, sinh thái, văn hóa, và các giá trị cộng đồng khác bốn thành phần cơ bản trong cộng đồng ứng xử, khai thác, sử dụng một cách hợp lý và bền vững. Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên này đòi hỏi cần có kiến thức, kỹ năng, và thái độ phù hợp, hài hòa với truyền thống, tiến bộ của khoa học công nghệ và bắt nhịp với văn minh xã hội, công bằng. Vì vậy, một đòi hỏi hoặc cần thiết phải có một tư vấn điều phối một cách thích hợp với nguồn tài nguyên này, đây chính là nguồn tài sản chung, công cộng. Về nguyên tắc, tài sản chung, công cộng được sở hữu bởi toàn dân và được Nhà nước đại diện quản lý, chính vì thế, làm thế nào để việc quản lý và khai thác sử dụng đạt được hiệu quả cao cần phải gắn kết được sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội quan tâm và đặc biệt trong quá trình ra quyết định, một sự điều phối nhằm đảm bảo được sự chia sẻ công bằng lợi ích của các thành phần này cần được hình thành và phát triển. Đây chính là cơ sở cho việc kêu gọi đầu tư và đảm bảo được sự đầu tư một cách hiệu quả vào chất lượng sức khỏe hệ sinh thái, tài nguyên môi trường trong các khu bảo tồn biển.

Kết quả nghiên cứu về quản lý bảo tồn tại Cù Lao Chàm cho thấy hoạt động điều phối bảo tồn biển cần một năng lực kiến thức nhất định đó là hiểu biết về các mô hình phát triển bền vững liên quan từ thượng nguồn đến biển khơi. Bên cạnh kiến thức được học, được giới thiệu, hoạt động điều phối cần một kỹ năng thành thạo trong thao tác làm việc với cộng đồng, trong nghiên cứu thực địa, trong phòng thí nghiệm và kể cả bảo tàng. Các nghiên cứu gần đây về quản lý hiệu quả bảo tồn biển cho thấy hoạt động điều phối bảo tồn biển còn cần phải vững vàng trong quá trình phân tích, xây dựng chính sách, hỗ trợ tư vấn cho cộng đồng xây dựng chính sách phát triển bảo tồn biển và kinh tế xã hội địa phương.

Hình 1 mô tả khung điều phối hoạt động bảo tồn biển được tổng hợp theo nghiên cứu điều phối hoạt động bảo tồn tại Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Theo khung này, hoạt động bảo tồn biển được thực hiện đòi hỏi một năng lực điều phối nhất định, theo đó các phương pháp tiếp cận và công cụ, đặc biệt các công cụ làm việc với cộng đồng cần được trang bị và sử dụng thành thạo, bên cạnh kiến thức về phát triển bền vững được liên tục bồi dưỡng. Cuối cùng trên nền của hiện trạng kinh tế xã hội và sử dụng tài nguyên môi trường của địa phương, điều phối bảo tồn của các khu bảo tồn biển tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xây dựng các kiến nghị chính sách phục vụ bảo tồn và phát triển với lợi ích lâu dài tại đây.

 A-KBTB30102017-01

Hình 1: Khung điều phối hoạt động bảo tồn biển theo (Nghiên cứu năng lực điều phối hoạt động bảo tồn biển Cù Lao Chàm). Hỗ trợ cho sự điều phối tích cực là các phương pháp và công cụ tiếp cận, đồng thời các kiến thức về phát triển bền vững cũng được liệt kê trong quá trình phát triển của sự quản lý.

3) Hoạt động điều phối trong quá trình quản lý tổng hợp khu bảo tồn biển

Hoạt động điều phối trong quá trình quản lý tổng hợp khu bảo tồn biển thường gồm các chương trình hành động được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức, năng lực của cộng đồng trong các khu bảo tồn, các nghiên cứu tìm kiếm các thông tin, hiểu biết về nguồn lực địa phương, các liên kết xây dựng và phát triển sinh kế cộng đồng, thống nhất về mô hình quản lý, cảm kết, quy định, theo dõi giám sát, tuần tra, bảo vệ, thực thi pháp luật, các kết nối, hợp tác quốc tế, cũng như tổ chức thu gom và chi trả chi phí hưởng dụng dịch vụ sinh thái trong khu bảo tồn.

A-KBTB30102017-02

Hình 2: Tập hợp và liên kết các nhóm hoạt động cơ bản trong khu bảo tồn biển (Nghiên cứu hoạt động bảo tồn biển Cù Lao Chàm).

Các hoạt động điều phối trong quá trình bảo tồn phần lớn tập trung vào hỗ trợ cho giới thiệu kiến thức, sử dụng kiến thức thông qua kỹ năng và thể hiện hành động. Vì vậy hoạt động giáo dục, truyền thông bảo vệ tài nguyên môi trường là nhiệm vụ hàng đầu của bảo tồn, bên cạnh đó là hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng kiến thức, hiểu biết và thông tin về nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, môi trường cũng như văn hóa xã hội trong và xung quanh khu bảo tồn. Hoạt động xây dựng và phát triển sinh kế phù hợp với bảo tồn nhằm tạo điều kiện cho người dân địa phương có thể tham gia thể hiện hành động bảo tồn và kinh tế xã hội đi kèm. Hoạt động với sự tham gia đầy đủ các bên liên quan và người dân địa phương nhằm xây dựng công cụ quản lý như kế hoạch quản lý khu bảo tồn, quy chế quản lý khu bảo tồn, kế hoạch và quy chế quản lý chuyên đề về hệ sinh thái vùng cửa sông ven bờ.

4) Chi phí và lợi ích của quá trình quản lý tổng hợp

Chi phí và lợi ích của quá trình quản lý tổng hơp bảo tồn biển được tiếp cận theo hướng nghiên cứu các dịch vụ sinh thái mà khu bảo tồn cung cấp được. Trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, các hình thức dịch vụ sinh thái từ thiên nhiên mà con người được hưởng, hay nói cách khác là mối quan hệ giữa các hình thức dịch vụ của hệ sinh thái (thiên nhiên) và nhu cầu sống của con người thông qua các giá trị cuộc sống được cung cấp tối đa các lợi ích từ các hệ sinh thái khỏe mạnh. Một hệ sinh thái khỏe mạnh thông thường thể hiện rõ 4 chức năng cơ bản bao gồm chức năng hỗ trợ, cung cấp, điều hòa và duy trì các giá trị văn hóa. Trên cơ sở các chức năng này, các hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ sinh thái và thông qua đó, con người được thừa hưởng các lợi ích từ thiên nhiên mang lại phục vụ cho đời sống của mình. Trong quá trình phát triển, con người xúc tiến các hoạt động kinh tế xã hội với không ít các hình thức khai thác, sử dụng các lợi ích thiên nhiên đó đáp ứng nhu cầu sống hằng ngày. Và cũng chính vì chỉ tập trung khai thác các lợi ích nên con người đã và đang ngày càng làm tổn thương cạn kiệt nguồn lực tài nguyên, mà đáng lý ra chúng ta được và sẽ được hưởng lớn hơn rất nhiều. Các nghiên cứu tập trung vào hướng đầu tư chi phí ban đầu cho ứng xử của con người trong và chung quanh các khu bảo tồn. Một loạt các hoạt động đầu tư được tập trung nhằm nghiên cứu xây dựng kiến thức, nâng cao nhận thức, tập luyện kỹ năng và trình diễn các hoạt động thể hiện hành động tham gia, chia sẻ trong cộng đồng.

Ví dụ được đi kèm là nghiên cứu phân tích chi phí và lợi ích của khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm trong thời gian qua. Quá trình đầu tư xây dựng khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm được bắt đầu từ 10/2003 đến 10/2011 với nguồn vốn đầu tư từ chính phủ Đan Mạch và sự hỗ trợ từ các cơ quan liên quan của Việt Nam. Trong vòng hơn 8 năm đầu tư lớn, tổng chi phí cho các hoạt động bảo tồn tại Cù Lao Chàm gần 2,5 triệu đô (tương đương khoản 50 tỷ đồng), tuy nhiên cũng trong khoản cuối thời gian đó, hoạt động du lịch đã bắt đầu có sự đóng góp trở lại cho bảo tồn Cù Lao Chàm, thông qua vé tham quan Khu Bảo tồn biển. Trong những năm gần đây, vé tham quan khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã được chấp thuận với 70.000 đồng/người, theo số lượng trung bình du lích khoản 500.000 lượt khách/năm, Cù Lao Chàm cũng đã tập hợp được một nguồn kinh phí đáng kể cho việc tái đầu tư trở lại các hệ sinh thái của khu vực.

 A-KBTB30102017-03

Hình 3: Phân tích chi phí và lợi ích quá trình xây dựng và phát triển Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Đối với trường hợp Cù Lao Chàm, chi phí bảo tổn tập trung vào các nhóm hoạt động tư vấn truyền thông, giáo dục, nghiên cứu, sinh kế, tuần tra, giám sát, quan hệ quốc tế, tham quan học tập, vệ sinh môi trường, bảo vệ, phục hồi, bảo tàng. Các lợi ích bảo tồn mang lại không chỉ là du lịch, mà còn là thủy sản, nguồn lợi, giáo dục, nghiên cứu,…Tuy nhiên, hiện tại, du lịch là hoạt động chiếm ưu thế tại các khu bảo tồn, và nguồn thu chính đã và đang là sự đóng góp từ du khách thông qua vé tham quan học tập. Trong tương lai, trên cơ sở áp dụng các tiến bộ từ khoa học kỹ thuật, công nghệ, việc tính toán chia sẻ trách nhiệm từ các hoạt động khác trong khu bảo tồn biển như thủy sản, nguồn lợi, giáo dục, môi trường, sức khỏe được tiến hành và lợi ích mang lại từ các hệ sinh thái khỏe mạnh sẽ được mở rộng và gia tăng. Nhìn chung, phân tích chi phí và lợi ích từ các khu bảo tồn biển cho thấy việc đầu tư ban đầu để đạt được sự đồng thuận cao trong cộng đồng thường kéo dài từ 8 đến 10 năm, đối với Cù Lao Chàm cũng vậy, thời gian đầu tư được tính từ những ngày đầu cho đến khi được đồng thuận cao và nguồn thu từ du lịch một cách đáng kể được tính tổng cộng đến hơn 11 năm.

Việc xây dựng và hoàn thiện các kỹ năng điều phối tại Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm từ việc tiếp nhận kiến thức đến thành thạo sử dụng và thể hiện được hành động được tính toán tổng từ 8 đến 10 năm, tuy nhiên các khu bảo tồn khác ngày nay, có thể rút ngắn được quãng thời gian này theo tiếp cận kinh nghiệm điều phối của Cù Lao Chàm.

A-KBTB30102017-04

Hình 4: Phân tích chuỗi thời gian hoạt động xây dựng năng lực điều phối quản lý bảo tồn biển (Nghiên cứu xây dựng năng lực điều phối hoạt động bảo tồn biển Cù Lao Chàm).

Dự báo thời gian đạt được sự đồng thuận bảo tồn, nếu bắt đầu từ kinh nghiệm Cù Lao Chàm sẽ được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm. Câu hỏi đặt ra là tại sao, nếu học tập kinh nghiệm Cù Lao Chàm thì thời gian đồng thuận cho bảo tồn được rút ngắn còn lại từ 3 đến 5 năm? Thực ra trong quá trình xây dựng và phát triển bảo tồn biển Cù Lao Chàm, thời gian tìm kiếm, nghiên cứu cho các phương pháp tiếp cận, giáo dục, truyền thông cộng đồng rất dài, chiếm hơn 1/3 đến 1/2 tổng số thời gian đạt được đồng thuận cao tại đây. Vì vậy học tập Cù Lao Chàm là học tập các phương pháp tiếp cận, các kỹ năng từ thực tiễn trong công tác cộng đồng. Đồng thời Cù Lao Chàm đã và đang là hiện trường lớn cho việc đào tạo các nguồn lực này đến các khu bảo tồn mới tại địa phương và khu vực. Một vài khu bảo tồn mới như Khu Bảo tồn hệ sinh thái rừng dừa nước Cẩm Thanh, Khu Bảo tồn Đảo Bé, Lý Sơn, Quảng Ngãi đang trong quá trình tiếp cận theo hướng Cù Lao Chàm.

5) Các nguồn lực đầu vào của quá trình quản lý tổng hợp

Nguồn lực đầu vào của quá trình quản lý tổng hợp tại các khu bảo tồn, đặc biệt các khu bảo tồn biển trước hết phải là tại địa phương, trên cơ sở phân tích theo hướng tiếp cận tài sản cộng đồng. Kinh nghiệm của khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm tập hợp được nguồn lực này là sức mạnh tổng hợp giúp cho Khu Bảo tồn biển vận hành quá trình quản lý bảo vệ, bảo tồn tài nguyên và môi trường tại địa phương.

A-KBTB30102017-05

Hình 5: Mô phỏng các quan hệ của doanh nghiệp bảo tồn trong khung hợp tác với 4 thành phần cơ bản của xã hội (quản lý, khoa học, doanh nghiệp và người dân)

Với sự mô tả các mối quan hệ giữa 4 thành phần cơ bản trong cộng đồng, năng lực điều phối bảo tồn được cải thiện dần theo nguồn nhân lực chuyên môn cùng với trang thiết bị, cơ sở vật chất và sự đồng thuận của cộng đồng. Sản phẩm của sự điều phối là sự đồng thuận, hay nói cách khác sản phẩm của điều phối bảo tồn là sự đồng thuận. Chất lượng của sự đồng thuận được diễn tả theo các mức độ biết, hiểu, làm, kiểm tra, ra quyết định.

6) Doanh nghiệp bảo tồn

Thông thường, việc quản lý, bảo vệ, bảo tồn, hoặc sử dụng các nguồn tài nguyên môi trường tại Việt Nam và Thế giới đều là nhiệm vụ của nhà nước. Tuy nhiên, nếu như quản lý bảo tồn biển được nhìn nhận tách biệt 2 góc độ về quản lý (governance) và quản trị / điều phối (management) thì cũng có thể phân chia hai nhóm chức năng chủ đạo này theo 2 chủ thể với trách nhiệm tương tác nhau một cách hài hòa hơn giữa các yếu tố thực thi và chỉ đạo thì chất lượng của các dịch vụ sinh thái, văn hóa và cộng đồng được cải thiện hiệu quả hơn nhiều, đồng thời cũng dễ dàng trong đa dạng hóa các nguồn lực cho đầu tư hoạt động bảo tồn. Vì vậy, một đề nghị bên cạnh chức năng quản lý (governance) chỉ toàn quyền Nhà nước thì chức năng quản trị / điều phối (management) có thể được đảm nhiệm theo một chủ thể chuyên môn gọi là doanh nghiệp bảo tồn.

Doanh nghiệp bảo tồn được hình thành là sự tất yếu của các mối quan hệ trong xã hội hoặc cụ thể hơn trong cộng đồng với thời điểm là các yếu tố này cần và bắt buộc phải được kết nối nhau như sự gắn kết cần thiết của tự nhiên với tự nhiên của xã hội với xã hội và tự nhiên với xã hội mà trong đó con người là yếu tố chủ thể. Chính vì vậy doanh nghiệp bảo tồn là thành phần mới được xuất hiện trên cơ sở hợp tác điều phối hay chính sản phẩm của doanh nghiệp bảo tồn là sự hợp tác (partnership).

Doanh nghiệp bảo tồn được hình thành do nhu cầu cần đáp ứng được sự điều phối liên nghành một cách tất yếu của quá trình quản lý tổng hợp. Một khi tài nguyên và môi trường sống chung quanh chúng ta ngày một bị hạn chế dần về không gian cũng như chất lượng của các mối quan hệ giữa các thành phần sống và không sống trong các hệ sinh thái.

A-KBTB30102017-06

Hình 6: Mô phỏng điều phối hoạt động bảo tồn được đảm nhiệm bởi một đơn vị kinh tế gọi là doanh nghiệp bảo tồn theo quy trình quản lý tổng hợp (Nghiên cứu chuyển giao mô hình điều phối bảo tồn biển Cù Lao Chàm đến các địa phương).

Doanh nghiệp bảo tồn được hiểu như là một đơn vị kinh tế thực hiện các nhiệm vụ khoa học ứng dụng phục vụ cho công tác bảo tồn. Doanh nghiệp bảo tồn được gọi như vậy bởi vì đơn vị khi tế này cũng là một doanh nghiệp, có nghĩa là trong hoạt động sản xuất, kinh doanh họ vẫn là đơn vị thực hiện các quá trình lao động hình thành sản phẩm, và sản phẩm của họ vẫn là một sự tồn tại các kết quả nhất định mà chúng ta thường gọi là “đồng thuận” hoặc “partnership” trong một hệ thống quản lý tổng hợp. Doanh nghiệp bảo tồn được hiểu theo khung hợp tác với 4 thành phần cơ bản của xã hội là quản lý, khoa học, doanh nghiệp và người dân, là đơn vị kinh tế khoa học ứng dụng có thể được hình thành từ khối nhà nước, khoa học, doanh nghiệp truyền thống hoặc từ người dân địa phương. Tuy nhiên, một điểm khác cơ bản của doanh nghiệp bảo tồn đối với danh nghiệp truyền thống là doanh nghiệp bảo tồn đặt lợi ích của bảo tồn (thiên nhiên, văn hóa) làm mục tiêu phấn đấu đầu tiên, sau đó đến lợi ích của người dân, và cuối cùng là lợi ích của doanh nghiệp. Trong khi đó doanh nghiệp truyền thống thường quan tâm hàng đầu là lợi nhuận cho doanh nghiệp, mặc dầu trong thực tiễn vẫn có những doanh nghiệp có chọn lựa sự quan tâm với bảo tồn, và con người trong quá trình kinh doanh của mình, tuy nhiên đó không phải là yếu tố bắt buộc. Một nguyên tắc bắt buộc của doanh nghiệp bảo tồn là phải đặt lợi ích của bảo tồn, con người và của doanh nghiệp theo thứ tự 1, 2, 3, không thể có trường hợp khác.

Như vậy vấn đề đặt ra là làm sao để quản lý doanh nghiệp bảo tồn này? Theo kết quả nghiên cứu thực tiễn tại Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam, doanh nghiệp bảo tồn có một nội dung hoạt động rất phong phú, đòi hòi phải trang bị một kiến thức và kỹ năng tối thiểu để có thể hoạt động. Kiến thức và kỹ năng của doanh nghiệp bảo tồn được mô tả theo khung logic hoạt động được yêu cầu trong mục 2 thảo luận ở phần trên.

7) Hoạt động giám sát đánh giá kết quả điều phối hoạt động bảo tồn

Giám sát đánh giá kết quả điều phối hoạt động bảo tồn là vô cùng quan trọng và được thực hiện, giúp cho Nhà nước nắm chắc được tiến độ hằng năm và theo định kỳ nhằm xác định được nguồn lực đầu tư cho hệ sinh thái của khu bảo tồn, thông qua chi trả dịch vụ sinh thái, văn hóa, và các giá trị cộng đồng. Nhiệm vụ chính của điều phối hoạt động bảo tồn là chăm lo đến sức khỏe các hệ sinh thái, vì vậy giám sát đánh giá điều phối hoạt động bảo tồn cũng chính là giám sát đánh giá sức khỏe hệ sinh thái chủ đạo trong khu bảo tồn, cùng với đánh giá kinh tế xã hội tại địa phương.

 A-KBTB30102017-07

Hình 7: Ví dụ giám sát đánh giá điều phối hoạt động bảo tồn biển

Giám sát đánh giá kết quả điều phối hoạt động bảo tồn thường được tổ chức độc lập theo tư vấn được cơ quan quản lý Nhà nước chọn lựa. Hiện nay, đối với các khu Bảo tồn biển, hoạt động này được tổ chức thực hiện bởi hầu hết các BQL Khu Bảo tồn, vì tại đây vừa thực hiện cả hai chức năng quản lý (governance) và quản trị, điều phối (management). Tuy nhiên, để kêu gọi và bền vững nguồn lực tài chính đầu tư cho bảo tồn biển, 2 chức năng này cần được tách rời, trong khi chức năng quản lý (governance) thuộc về Nhà nước, thì chức năng quản trị, điều phối (management) có thể được đảm nhiệm bởi sự hình thành từ một trong 4 thành phần quản lý nhà nước, khoa học, doanh nghiệp và người dân địa phương, với điều kiện hội đủ năng lực điều phối và khả năng tài chính khác.

8) Kết luận

Trên cơ sở nhu cầu cần thiết cho việc quản lý tổng hợp các khu bảo tồn, theo tiếp cận hệ sinh thái, sự điều phối hỗ trợ hình thành sự đồng thuận giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương, được xây dựng và phát triển. Sự gia tăng giá trị dịch vụ sinh thái, văn hóa, cộng đồng tại các khu bảo tồn biển được bảo vệ, bảo tồn cần được nghiên cứu tổ chức trao đổi một cách công bằng qua lại với người hưởng dụng giá trị này, theo nguyên tắc trao đổi hàng hóa.

Giải pháp tài chính bền vững cho các khu bảo tồn biển Việt Nam cần được xây dựng trên nền tảng của các giá trị dịch vụ sinh thái, văn hóa và cộng đồng mà khu bảo tồn biển bảo vệ, bảo tồn được và trên nguyên tắc người hưởng lợi từ sự gia tăng các giá trị dịch vụ này phải trả tiền. Nguồn thu từ chi trả dịch vụ sinh thái, văn hóa, và cộng đồng cần phải được sử dụng vào tái đầu tư cho các hệ sinh thái biển, công trình văn hóa, năng lực cộng đồng thông qua các hoạt động điều phối của bảo tồn biển.

Trong quá trình điều phối hoạt động bảo tồn biển, đặc biệt giai đoạn khởi đầu xây dựng bảo tồn biển, nguồn lực đầu tư ban đầu cần được xác định. Việc đầu tư nguồn lực này có thể được mở rộng với các thành phần kinh tế trong xã hội bao gồm nhà quản lý, khoa học, doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, một khi các thành phần này đảm nhiệm điều phối hoạt động bảo tồn biển, điều tiên quyết là các thành phần phải có đủ năng lực điều phối, và được nhìn nhận việc đầu tư phục hồi, bảo vệ, bảo tồn là gia tăng giá trị dịch vụ sinh thái, văn hóa, năng lực cộng đồng như một doanh nghiệp đầu tư bảo tồn. Nhà nước giữ vai trò quản lý doanh nghiệp đầu tư bảo tồn này thông qua quy cách về năng lực điều phối, chất lượng sức khỏe các hệ sinh thái, hoạt động điều phối bảo tồn biển.

Giá bán các giá trị gia tăng của chất lượng dịch vụ sinh thái, văn hóa, môi trường và cộng đồng thông qua vé tham quan du lịch, học tập, nghiên cứu, khai thác hợp lý nguồn lợi,…trong khu bảo tồn cần phải được dựa trên kết quả nghiên cứu, khảo sát ý kiến của người sử dụng, khai thác như du khách. Nguồn lực tài chính được huy động một cách lâu dài cho công tác bảo tồn là người sử dụng dịch vụ sinh thái, văn hóa phải chi trả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trinh, C.M (2011), Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển T11 (2011), 2, tr.79-95.

Trinh, C.M. 2013. Du lịch sinh thái Cù Lao Chàm – Hội An, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Số 6-7 (104-105).2013. Tr. 17-27.

Trinh, C.M. (2014), “Building Resilience in Hoi An city, Viet Nam through the Cham Islands Marine Protected Area (Chapter 17 – Viet Nam. P.149)”, Safe Havens: Protected Areas for Disaster Risk Reduction and Climate Change Adaptation. Gland, Switzerland: IUCN. xii + 168 pp , (Murti, R. and Buyck, C. (ed.) (2014).

Trinh, C.M (2016), Du lịch Lý Sơn, Quảng Ngãi - Tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam.

Chu Mạnh Trinh - Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

 

Định hướng phân vùng trong các khu bảo tồn biển trên Thế giới – Nhìn lại thực tại Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ sáu, 20 Tháng 10 2017 15:47 Số truy cập:339

Khu Bảo tồn biển (KBTB) là một trong những công cụ quản lý tài nguyên rất cần thiết để làm chậm lại và cuối cùng đảo ngược quá trình suy thoái hệ sinh thái ven biển nhằm phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái, nguồn lợi tự nhiên ở biển. Vì thế, điều quan trọng là thực hiện phân vùng như thế nào, dưới những điều kiện nào để các KBTB đạt hiệu quả nhất. Về cơ bản, một KBTB thường được quy hoạch theo những phân vùng chức năng như sau:

- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt (VBVNN) – No-take zone: nghiêm cấm hoàn toàn hoạt động khai thác.

- Vùng bảo vệ một phần (partially protected MPAs): nghiêm cấm theo mùa, theo vùng hoặc có thể xen kẻ các hoạt động khai thác hợp lý, du lịch.

Trên thế giới, các nhà khoa học đã nhận ra giá trị của KBTB, đặc biệt là các VBVNN trong việc cải thiện sức khỏe hệ sinh thái, bao gồm sự tồn tại và phát triển của ngành thủy sản và hơn nữa là giúp hỗ trợ các nguồn sinh kế thay thế bằng cách thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên ven biển như du lịch sinh thái [1]. Việc quy hoạch KBTB dựa trên khoa học đang được tiến hành tại rất nhiều quốc gia với những kết quả khả quan, có lợi cho các cộng đồng dân cư và hệ sinh thái liên quan. Tính đến tháng 3/2017, 6,5% diện tích đại dương là các KBTB và chỉ có 1,6% trong số đó là các VBVNN [3]. Mặc dù diện tích các KBTB được gia tăng hàng năm nhưng vẫn còn thấp so với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc đặt ra vào năm 2020 là 10% diện tích của đại dương là các KBTB.

Đọc thêm...

 
 

Tam Hải, Núi Thành, Quảng Nam tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững

PDF.InEmail

Thứ sáu, 18 Tháng 8 2017 10:28 Số truy cập:589

Được gọi là đảo, nhưng không xa lắm từ đất liền, chỉ cách một dòng sông, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, được che chắn bởi những dải đá trầm tích biến chất hàng trăm triệu năm tuổi và bao bọc chung quanh bởi 2 nguồn nước mặn và ngọt. Từ đó, nơi đây một nguồn tài nguyên phong phú, một cảnh quan môi trường nền nã được hình thành, tuy nhiên trong những năm qua, những giá trị ấy hầu như chưa được khơi dậy. Việc nhận diện những giá trị nỗi trội, tài sản cộng đồng hỗ trợ cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, ngoài những gì từ thiên nhiên, văn hóa, các đóng góp từ cộng đồng cũng cần được tổng hợp và khôi phục nhân rộng. Thông qua việc rà soát hoạt động đóng góp, nỗ lực bảo tồn tại địa phương trước đây, báo cáo đã kiến nghị các giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng phục vụ cải thiện sinh kế người dân, kinh tế xã hội Tam Hải, Núi Thành.

Đọc thêm...

 
 

Thành công và thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng tại Khu Dư trữ sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (Kinh nghiệm điển hình từ dự án dừa nước Cẩm Thanh, cua đá Cù Lao Chàm và quản lý rác thải Hội An)

PDF.InEmail

Thứ sáu, 11 Tháng 8 2017 14:10 Số truy cập:455

Theo dòng thời gian, Hội An đã từng và đang là nơi hội ngộ của du khách từ Tây sang Đông của cả hai miền Bắc và Nam bán cầu đến giao lưu, buôn bán, làm ăn, sinh sống, viếng thăm. Theo lớp không gian, Hội An cũng đã từng và đang là nơi gặp nhau của các nguồn tài nguyên sinh vật từ thượng nguồn đến hạ lưu, từ biển khơi đến lục địa và theo dọc vùng bờ đến trú đông, kết bạn, sinh sống, hoặc duy trì nòi giống. Con người và thiên nhiên đã từng và dường như đang “hội ngộ” tại Hội An – một vùng cửa sông và ven bờ trù phú của dòng sông Thu Bồn, làm nên sự đa dạng và độc đáo của một Di sản Văn hóa Thế giới, và một Khu Dự trữ Sinh quyển cho mai sau. Trong những năm qua, Hội An đã và đang khai thác thế mạnh này và kết quả Hội An cũng đã và đang mạnh và giàu lên từng ngày, làm rạng rỡ một đô thị cổ xinh đẹp, quyến rũ và tiếng vang khắp thế giới. Tuy nhiên, để một Hội An phát triển bền vững, Hội An cần phải bảo tồn và phát triển sự “hội ngộ” ấy, hội ngộ của con người và hội ngộ của thiên nhiên. Bài trình bày thảo luận về thành công lan toả, thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng ở Khu Dự trự Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An thông qua các điển hình từ dự án Dừa nước Cẩm Thanh, Cua Đá Cù Lao Chàm và Quản lý Rác thải Hội An.

Đọc thêm...

 
 

Một số kết quả, hạn chế và định hướng trong công tác quản lý bảo tồn biển tại Việt Nam

PDF.InEmail

Thứ năm, 20 Tháng 7 2017 09:28 Số truy cập:683

I. Một số kết quả đạt được của Hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam

1. Hệ thống hệ thống khu bảo tồn biển đang được hình thành

- Đến nay, 12 khu bảo tồn biển đã được thành lập và đưa vào hoạt động: Khu vịnh Nha Trang/Khánh Hòa (2001); Khu BTB Cù Lao Chàm/Quảng Nam (2004); Khu BTB Phú Quốc/Kiên Giang (2007); Khu BTB Cồn Cỏ/Quảng Trị (2009); Khu BTB Hòn Cau/Bình Thuận (2010); Khu BTB Bạch Long Vĩ/Hải Phòng (2014); Khu BTB Lý Sơn/Quảng Ngãi (2015)

- Có 04 khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết đang hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập: Khu bảo tồn biển Hòn Mê; Khu bảo tồn biển Nam Yết; Khu bảo tồn biển Phú Quý; Khu bảo tồn biển Hải Vân - Sơn Chà.

Đọc thêm...

 
 

Trang 1 trong tổng số 7

.