Nghiên cứu phát triển

Một số kết quả, hạn chế và định hướng trong công tác quản lý bảo tồn biển tại Việt Nam

PDF.InEmail

Thứ năm, 20 Tháng 7 2017 09:28 Số truy cập:85

I. Một số kết quả đạt được của Hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam

1. Hệ thống hệ thống khu bảo tồn biển đang được hình thành

- Đến nay, 12 khu bảo tồn biển đã được thành lập và đưa vào hoạt động: Khu vịnh Nha Trang/Khánh Hòa (2001); Khu BTB Cù Lao Chàm/Quảng Nam (2004); Khu BTB Phú Quốc/Kiên Giang (2007); Khu BTB Cồn Cỏ/Quảng Trị (2009); Khu BTB Hòn Cau/Bình Thuận (2010); Khu BTB Bạch Long Vĩ/Hải Phòng (2014); Khu BTB Lý Sơn/Quảng Ngãi (2015)

- Có 04 khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết đang hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập: Khu bảo tồn biển Hòn Mê; Khu bảo tồn biển Nam Yết; Khu bảo tồn biển Phú Quý; Khu bảo tồn biển Hải Vân - Sơn Chà.

quanlybtb20072017-01

Hình 1: Sơ đồ Hệ thống bảo tồn biển Việt Nam

2. Một số văn bản quản lý liên quan đến công tác bảo tồn biển được xây dựng và ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động bảo tồn biển

3. Nhận thức về bảo tồn biển của cán bộ quản lý các cấp và người dân sống trong và xung quanh các khu bảo tồn biển được nâng cao

4. Năng lực quản lý hoạt động bảo tồn biển được cải thiện

5. Hình thành một số mô hình sinh kế mới có hiệu quả cho cộng đồng dân cư trong các khu khu bảo tồn biển (Mô hình cải hoán tàu cá khai thác ven bờ thành tàu chở khách du lịch, mô hình nhà ở homestay phục vụ khách du lịch tại KBTB Cù Lao Chàm; mô hình hỗ trợ cho vay tài chính để phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cho hội phụ nữ KBTB Hòn Mun…)

6. Môi trường, cảnh quan trong các khu bảo tồn biển được cải thiện

7. Các hệ sinh thái biển được bảo vệ, ngăn ngừa suy giảm

8. Nguồn lợi hải sản trong các khu khu bảo tồn biển dần được khôi phục

9. Thiết lập được mối quan hệ với các tổ chức trong nước và quốc tế

II. Một số hạn chế, tồn tại.

1. Công tác quy hoạch, thành lập khu bảo tồn biển ở Việt Nam được triển khai muộn, thực hiện chậm;

2. Thiếu khung pháp lý quản lý hệ thống khu bảo tồn biển;

3. Áp lực giữa bảo tồn và phát triển kinh tế ngày càng gia tăng;

quanlybtb20072017-02

Hình 2: Xây dựng các công trình phục vụ du lịch trong vùng lõi Khu BTB Cù Lao Chàm

4. Nguồn kinh phí cấp cho công tác bảo tồn biển hạn chế;

5. Cộng đồng cư dân trong và xung quanh các khu bảo tồn biển nghèo, dân trí thấp, sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển;

6. Nhận thức chung của toàn xã hội đối với công tác bảo tồn biển còn thấp;

7. Thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về công tác quản lý bảo tồn biển.

quanlybtb20072017-03

Hình 3: Bản đồ phân vùng Vườn Quốc gia Bái Tử Long

quanlybtb20072017-04

Hình 4: Bản đồ phân vùng Khu bảo tồn biển Phú Quốc

III. Định hướng trong thời gian đến

1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật

- Trong năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục nghiên cứu, tham mưu Chính phủ các nội dung liên quan đến công tác bảo tồn biển để đưa vào nội dung sửa đổi Luật Thủy sản.

- Song song với quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng tiến hành nghiên cứu tham mưu nội dung sửa đổi Nghị định số 57/2008/NĐ-CP và các văn bản khác nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản luật liên quan đến công tác bảo tồn biển nói riêng và bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản nói chung.

- Xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật cho đầu tư xây dựng một khu bảo tồn biển cấp quốc gia và một khu bảo tồn biển cấp tỉnh; Thông tư hướng dẫn về tiêu chí lựa chọn thành lập và quản lý các phân khu chức năng trong khu bảo tồn biển.

- Nghiên cứu, xây dựng chính sách khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn biển; hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng ngư dân, đặc biệt là ngư dân sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên từ các khu bảo tồn biển.

- Nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn việc liên danh, liên kết, hợp tác công - tư trong lĩnh vực bảo tồn biển; từng bước xã hội hóa công tác quản lý bảo tồn biển nhằm giảm áp lực lên ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia sâu hơn vào các hoạt động bảo tồn biển. Tuy nhiên, việc tham gia liên danh, liên kết phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật về quản lý bảo tồn biển; những hoạt động liên danh, liên kết chỉ được phép thực hiện ở khu vực nào, không được phép thực hiện ở khu vực nào sẽ được làm rõ trong các văn bản quản lý để tạo cơ sở cho các địa phương triển khai các nội dung liên quan.

- Nghiên cứu lượng giá giá trị kinh tế của các hệ sinh thái biển làm cơ sở cho việc thu phí thăm quan tại các khu bảo tồn biển.

2. Quy hoạch và rà soát quy hoạch

- Triển khai quy hoạch chi tiết 02 khu bảo tồn biển Cô Tô và Đảo Trần (Đây là 02 khu bảo tồn biển thuộc danh mục các khu bảo tồn biển được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 742/QĐ-TTg chưa được quy hoạch chi tiết).

- Hoàn thiện hồ sơ đối với các khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập.

- Rà soát lại qui hoạch các khu bảo tồn biển đã đi vào hoạt động, điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp và thống nhất với hệ thống chung.

- Trên cơ sở số liệu điều tra thuộc Đề án 47, hoàn thiện báo cáo đề xuất thêm một số vùng biển có tiềm năng bảo tồn để quy hoạch thành các khu bảo tồn, bổ sung vào hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm tăng diện tích các vùng biển có tiềm năng bảo tồn vào quản lý.

3. Tăng cường công tác truyền thông về bảo tồn biển

- Phối hợp với các Tổ chức IUCN, WWF... tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về công tác bảo tồn biển cho cán bộ từ Trung ương đến địa phương.

- Triển khai các đợt truyền thông sâu rộng đến cộng đồng để giúp người dân địa phương hiểu và ủng hộ công tác bảo tồn biển.

- Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự truyền thông, phổ biến các quy định pháp luật liên quan đến công tác quản lý khu bảo tồn biển để tuyên truyền đến cộng đồng.

4. Mở rộng hợp tác quốc tế về lĩnh vực bảo tồn biển

- Mở rộng và tăng cường hợp tác với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác bảo tồn biển để tìm kiếm sự giúp đỡ về kỹ thuật và các nguồn tài chính cho công tác bảo tồn biển tại Việt Nam.

- Tổ chức các đoàn thăm quan học tập kinh nghiệm tại các nước trong khu vực và trên thế giới để tăng cường hiểu biết và quan hệ hỗ trợ trong công tác bảo tồn biển.

5. Thực hiện tốt đồng quản lý trong công tác quản lý khu bảo tồn biển

- Xây dựng các mô hình đồng quản lý nhằm chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi giữa các bên liên quan trong công tác quản lý bảo tồn biển. Từng bước cải thiện sinh kế cho cộng đồng,cải thiện môi trường bên trong các khu BTB.

6. Thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính bền vững cho hoạt động của các khu BTB

7. Tăng cường công tác tra các hoạt động quản lý khu bảo tồn biển tại địa phương.

 Kim Phương – BQL KBTBCLC

(Nguồn tài liệu tổng hợp: Hội thảo Hiệu quả quản lý Mạng lưới các Khu bảo tồn biển Việt Nam)

 

Bảo tồn và phát triển rừng dừa (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam

PDF.InEmail

Thứ năm, 15 Tháng 6 2017 15:57 Số truy cập:373

Nằm cuối dòng sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam, thành phố Hội An được thừa hưởng một sự đa dạng các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ. Các bãi sậy, cồn cát, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, quần cư rong biển, rừng tự nhiên trên đảo, cảnh quan trên cạn và dưới nước đã và đang mang lại cho Hội An một sự giàu có từ các dịch vụ sinh thái, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là du lịch. Rừng dừa “Bảy Mẫu” (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh với diện tích khoảng 84 ha là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản của nhiều loài động vật có giá trị kinh tế cao. Đa dạng sinh học nơi đây đã và đang mang lại sự trù phú cho người dân, tuy nhiên, do ảnh hưởng của việc khai thác không lợp lý, nguồn lợi đang có xu hướng suy giảm và sinh kế của dân khó khăn dần. Báo cáo đã ghi lại nỗ lực của cộng đồng Cẩm Thanh trong công tác bảo tồn và phát triển rừng dừa nước này, đồng thời nhiều bài học kinh nghiệm cũng được đúc kết và phân tích.

Đọc thêm...

 
 

Trai tai tượng (tridacna) trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Cần được bảo vệ và phục hồi khẩn cấp!

PDF.InEmail

Thứ tư, 07 Tháng 6 2017 16:15 Số truy cập:393

Thông tin chung

Trai tai tượng (tridacna) là loài động vật thân mềm, hai mảnh vỏ, có giá trị cao ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chúng được sử dụng rộng rãi trong nuôi cảnh và chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do có kích thước lớn, màu sắc khoang vỏ đa dạng, sặc sỡ. Về sinh học, Trai tai tượng có nguồn gen quý hiếm, giữ vai trò quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái rạn san hô.

Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy, Trai tai tượng chỉ phân bố trên các rạn san hô ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương [5]. Chúng có mối quan hệ mật thiết với quần xã và các điều kiện sinh thái trong hệ sinh thái rạn san hô. Những thay đổi của hệ sinh thái rạn san hô sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các loài Trai tai tượng [3], [4].

Ở Việt Nam, Trai tai tượng được tìm thấy tại 8 đảo: Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Hòn Cau, Hòn Mun, Nam Yết, Lý Sơn và Cù Lao Chàm. Ngoại trừ loài Trai tai tượng vàng nghệ (Tridacna crocea) còn khá phong phú ở Vườn quốc gia Côn Đảo, các đảo còn lại nguồn lợi này còn khá thấp [1].

 

Trong nhiều năm gần đây, nguồn lợi Trai tai tượng đang bị giảm sút nhanh chóng, một số loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do khai thác quá mức và thiếu hợp lý [1]. Hậu quả của việc này là nhiều loài đã được đưa vào Danh lục đỏ Việt Nam như loài Trai tai tượng khổng lồ (Tridacna gigas), Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa), Trai tai tượng lớn (Tridacna maxima),...vv. Đặc biệt 02 loài trước đây có thông tin phân bố ở vùng biển Việt Nam là Trai tai tượng khổng lồ và Trai tai nghé (Hippopus hippopus) không còn phát hiện trong các nghiên cứu gần đây [1].

Đọc thêm...

 
 

Bảo tồn và phát triển cua đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii)

PDF.InEmail

Thứ tư, 07 Tháng 6 2017 15:56 Số truy cập:272

Sáng kiến bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) đã và đang thể hiện một sự tích cực trong việc bảo vệ quyền hưởng dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng Cù Lao Chàm. Cua Đá là tài sản cộng đồng, thông qua bảo tồn, giá trị đó càng được hỗ trợ và cũng cố ý nghĩa hơn. Với sự hợp tác giữa các thành phần bao gồm nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương, cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang được bảo vệ và bảo tồn. Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm hiện tại tự quản lý khai thác theo công cụ dán nhãn sinh thái. Cua Đá được khai thác đúng quy định sẽ được dán nhãn và tiêu thụ hợp pháp trên thị trường. Cua Đá không có nhãn xuất hiện trên thị trường sẽ bị thu và trả về rừng. Thành viên trong tổ thường xuyên thảo luận, đánh giá hoạt động bảo tồn, khai thác, mùa vụ, phạm vi, số lượng cua được bắt, giá bán...Báo cáo ghi lại những nỗ lực của cộng đồng tham gia bảo tồn và phát triển cua Đá Cù Lao Chàm, đồng thời các bài học kinh nghiệm được đúc kết và phân tích.

1. Tóm tắt sáng kiến

Tên sáng kiến: “Cộng đồng tham gia phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm”; Mã số: VN/SGP/UNEP-SCS/09/01; Địa điểm thực hiện: Xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, Quảng Nam; Thời gian triển khai: 9/2009 - 12/2012.

Sáng kiến được xây dựng với mục đích là “Cua Đá Cù Lao Chàm được phục hồi sinh thái và cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp bảo tồn và khai thác hợp lý loài động vật này”. Đồng thời các mục tiêu cụ thể của dự án được bao gồm (a) Cộng đồng tham gia phục hồi sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm; (b) Cộng đồng tham gia trong việc khai thác và quản lý bảo vệ bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm; (c) Hỗ trợ nghiên cứu thu thập thông tin làm rõ đặc điểm sinh học, sinh thái của chủng loài cua Đá Cù Lao Chàm; và (d) Xây dựng mô hình đồng quản lý bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi tự nhiên dựa trên cơ sở sự tham gia và chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương.

2. Các nhóm hoạt động chính đã triển khai

Thành lập tổ công tác, tập huấn chuyên môn, thu thập thông tin, tham vấn cộng đồng xây dựng quy hoạch và quy chế quản lý bảo vệ khai thác hợp lý. Thành lập tổ những người bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá và xây dựng quy chế, chương trình giám sát, dán nhãn, phục hồi sinh thái cua Đá. Thành lập đội gám sát bao gồm các thành viên của nhóm cua đá kết hợp với đội tuần tra bảo tồn biển, thực hiện công việc cân đo và dán nhãn sinh thái, ghi nhật ký và xử lý số liệu, báo cáo.

Hình 1 Landcrabs

Hình 1: Cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii)

Hội thảo cộng đồng và các bên liên quan về quy hoạch phân vùng và quy chế quản lý bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá, trình phê chuẩn. Xây dựng các tài liệu tuyền thông, phối hợp, cộng tác với sinh viên, tình nguyện viên thực hiện các đề tài, cấp học bổng nghiên cứu, thực tập, thiết kế mô hình, tổ chức nghiên cứu thực tiễn mô hình, xây dựng báo cáo, tổ chức hội thảo đánh giá nhân rộng.

Thảo luận thống nhất trong cộng đồng các hoạt động thu nhập thay thế; vốn vay tín dụng, theo dõi và đánh giá kết quả, đúc kết các bài học kinh nghiệm.

3. Kết quả và tác động nổi bật của sáng kiến

Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm hiện tại tự quản lý khai thác theo công cụ “dán nhãn sinh thái”. Cua Đá được khai thác đêm hôm trước phải được mang đến địa điểm trình diễn để được nhận diện, đo, cân và dán nhãn sinh thái vào sáng hôm sau. Những con cua Đá không đúng quy định sẽ bị trả lại rừng. Đội dân quân của Xã sẽ phạt và thu hồi những trường hợp cua Đá bán tại chợ hoặc nhà hàng không có nhãn sinh thái. Thành viên trong tổ họp vào cuối tháng để thảo luận hoạt động trong tháng và quyết định số lượng cua được bắt, giá bán cho tháng sau. Trong 4 năm từ 2013 đến 2016, đã khai thác và dán nhãn sinh thái tổng cộng 18.972 cua Đá, trong đó 12.780 đực và 6.192 cái. Năm 2016, tổng số được dán nhãn là 5.020 con, trong đó 3.582 đực và 1.438 cái; với kích thước trung bình chiều ngang mai cua khai thác 7,9 cm, so quy định tối thiểu 7 cm. Cua Đá khai thác đúng quy định được dán nhãn sinh thái. Giá bán tổi thiểu 1.000.000 đồng/kg; Lệ phí là 50.000 đồng/kg sử dụng vào chi phí in nhãn, quản lý, thuế tài nguyên và khác của Tổ. Từ ngày 1/8 đến 28/2 hàng năm, cua Đá được quản lý và bảo vệ theo Chỉ thị 04 - mùa sinh sản. Cua Đá được khai thác từ tháng 1/3 đến 31/7 hàng năm với số lượng cho phép khai thác là 7.000 con/năm, trọng lượng bình quân của cua Đá khai thác từ 4 đến 5 con trên một kg.

Mô hình cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá tại Cù Lao Chàm đã thực sự góp phần vào bảo tồn loài cua này tại Cù Lao Chàm vì đã bảo vệ được 75% số lượng cua Đá. Tổ cua Đá từ 18 thành viên ngày thành lập nay là 43 và đã đăng ký được nhãn hiệu sinh thái cho sản phẩm cua Đá Cù Lao Chàm.

Khai thác cua Đá thường vào ban đêm và chỉ có người đàn ông trong gia đình thực hiện việc này, tuy nhiên phụ nữ là người bán cua Đá. Bắt cua Đá thường là những người ngư dân có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên gần đây, khi cua Đá trở nên mặt hàng quý đối với du lịch thì có nhiều thanh niên trẻ tham gia. Hiện tại số người trẻ tuổi đời dưới 30 tham gia bắt cua Đá lên đến 40% tổng số người bắt cua Đá tại Cù Lao Chàm.

Hình 2 Landcrabs

Hình 2: Quá trình bảo tồn và phát triển cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii).

Sáng kiến Tổ cộng đồng bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang góp phần vào phát triển du lịch sinh thái tại địa phương. Hình ảnh con cua Đá được dán nhãn sinh thái thể hiện những nỗ lực rất lớn của cộng đồng với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Cua Đá dán nhãn sinh thái là sản phẩm du lịch tại Cù Lao Chàm, ngày nay khách du lịch đến với Cù Lao Chàm không chỉ để thưởng thức cảnh quan thiên nhiên, văn hóa mà còn để biết được cách ứng xử của người dân Cù Lao Chàm với con cua Đá như thế nào. Nhiều khu bảo tồn khác đã và đang học tập mô hình này cho địa phương của mình.

Hình 3 Landcrabs

Hình 3: Cua Đá được nhận diện, đo, cân và dán nhãn sinh thái nếu kích thước chiều ngang mai cua lớn hơn 7 cm.

Cua Đá được bảo tồn và khai thác hợp lý đã góp phần vào giảm thiểu và thích ứng với BĐKH một cách tích cực vì muốn bảo tồn và khai thác cua Đá một cách bền vững Tổ cộng đồng và người dân địa phương phải tích cực trong bảo vệ rừng và đặc biệt là rừng tự nhiên. Cua Đá Cù Lao Chàm là loài sống cần có môi trường độ ẩm cao và nguồn thức ăn động thực vật đặc biệt côn trùng phong phú, vì vậy rừng phải luôn được giữ gìn trong điều kiện khỏe mạnh. Hoạt động bảo tồn cua Đá cung cấp sinh kế cộng đồng bền vững đã và đang tạo điều kiện cho người ngư dân giảm áp lực khai thác biển, ảnh hưởng đến rạn san hô, thảm cỏ biển, đây là các hệ sinh thái góp phần giảm lượng khí nhà kính (lắng đọng CO¬2).

Hình 4 Landcrabs

Hình 4: Hoạt động dán nhãn sinh thái cua Đá được thực hiện hàng ngày tại điểm trình diễn.

4. Tính bền vững của sáng kiến

Vận hành mô hình phối hợp giữa Tổ cộng đồng, Hội Nông dân, UBND xã, Khu Bảo tồn biển,... trong việc xây dựng và phê chuẩn kế hoạch hoạt động hàng năm, người dân địa phương đã và đang bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm. Sự hợp tác giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương đã và đang là cơ sở duy trì tính bền vững của sáng kiến. Trên cơ sở quy chế quản lý cua Đá kiến nghị từ cộng đồng được chính quyền địa phương phê chuẩn, cua Đá được các bên liên quan giám sát tích cực về quyền lợi được chia sẻ. Các hỗ trợ nghiên cứu, cập nhật thông tin thông qua Khu Bảo tồn biển, dự án MFF, Trường Đại học, Viện Nghiên cứu được giới thiệu và ứng dụng vào thực tiễn tại địa phương. Năm 2014, với sự tài trợ của IUCN mà cụ thể là chương trình MFF, Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã tiếp nhận một dự án mới nhằm điều phối hoạt động của Tổ cua Đá thông qua đối thoại cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và nâng cao năng lực quản lý nguồn tài nguyên cua Đá giữa 4 nhà.

5. Bài học kinh nghiệm

Sáng kiến đề xuất cần được xây dựng dựa trên nền tảng cái cộng đồng có, không nên trên cái cộng đồng cần; Phát huy tối đa nguồn lực địa phương có để vận hành hoạt động của sáng kiến; Nguồn vốn đối ứng cần được mở rộng khái niệm, không chỉ bằng tiền mà tất cả nguồn lực mà địa phương có thể tham gia vào hoạt động của sáng kiến. Trong tương lai, cùng với sự phát triển du lịch sinh thái tại địa phương con cua Đá Cù Lao Chàm cần phải được bảo vệ và tăng giá trị trao đổi theo hình thức hàng hóa lên cao tương xứng với sự quý hiếm của nguồn gien này đang được bảo tồn và hình ảnh của những nỗ lực về sáng kiến dán nhãn sinh thái của cộng đồng. Con cua Đá cần được hỗ trợ tiếp tục để xây dựng và phát triển thành loài đặc trưng, hình ảnh đại diện của Cù Lao Chàm (flagship species).

Sự tham gia đầy đủ các thành phần liên quan, lồng ghép các hoạt động, hoặc hỗ trợ có thể từ các bên liên quan vào vận hành sáng kiến, phân tích các mối liên kết, hoặc các chuỗi giá trị kết nối đến sản phẩm từ sáng kiến để kêu gọi, hoặc kiểm soát lẫn nhau là những kinh nghiệm quý giá đúc kết được. Sáng kiến bảo tồn và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang thể hiện một sự tích cực trong việc bảo vệ quyền hưởng dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng. Cua Đá là tài sản cộng đồng, thông qua bảo tồn, giá trị đó càng được hỗ trợ và cũng cố ý nghĩa hơn. Với sự hợp tác bảo tồn và khai thác bền vững giữa các nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương, cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang được bảo vệ và bảo tồn. Các hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững cần được lồng ghép mô hình 4 nhà trong đó phân tích rõ trách nhiệm và lợi ích mang lại từ kết quả sáng kiến, cũng như gắn kết vào truyền thông, giáo dục và đào tạo tại địa phương và trường đại học, và tiếp tục tăng cường công tác bảo tồn (ngân hàng cua Đá – Hòn Dài), cấm khai thác 3 năm liền…

Hình 5 Landcrabs

Hình 5: Cua Đá tại Hòn Dài được bảo vệ không được khai thác trong 3 năm từ 10/2016 đến 8/2019.

Kết nối kết quả sáng kiến vào lợi ích của các bên liên quan trong phát triển kinh tế xã hội, đồng thời quy chế quản lý cua Đá cần được xây dựng trên sự đồng thuận của toàn cộng đồng. UBND xã phê chuẩn quy chế và các văn bản liên quan đến khai thác cua Đá hàng năm. Lồng ghép được các hỗ trợ nghiên cứu từ nhà khoa học, sinh viên vào hoạt động của Tổ cua Đá tạo môi trường cho thông tin khoa học và kỹ năng thực hành được giới thiệu, ví dụ như vận hành quy trình giám sát, kiểm tra, dán nhãn hàng ngày của Tổ cua Đá được hình thành và hoàn thiện theo thời gian hợp tác với các đối tác trên. Sau khi kết thúc hoạt động của sáng kiến (12/2012), tháng 2/2013 UBND xã Tân Hiệp, thành phố Hội An đã ban hành quyết định thành lập Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm, cùng với quy chế quản lý cua Đá Cù Lao Chàm và các văn bản liên quan kèm theo nhằm đảm bảo Tổ Cộng đồng hoạt động hợp pháp tại địa phương. Và cũng chính từ thời gian này, Tổ Cộng đồng Bảo vệ và Khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm đảm nhận trọng trách của mình cùng với chính quyền địa phương và các bên liên quan bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm một cách hiệu quả. Hỗ trợ, kết nối Tổ cộng đồng tham gia hội thảo gắn kết hoạt động du lịch sinh thái trên cơ sở bảo tồn cua Đá, cộng đồng đã hướng dẫn du khách và quyết định số lượng khai thác cùng giá bán trên cơ sở đề nghị của khoa học. Bảo tồn và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và cùng xã hội hành động bảo vệ môi trường và động vật hoang dã tại địa phương và quốc gia. Hoạt động bảo vệ rừng tự nhiên Cù Lao Chàm được nâng cao và đặc biệt thông qua việc nuôi thử nghiệm cua Đá, người dân đã kết luận rằng tốt nhất là bảo vệ rừng tự nhiên vì với điều kiện môi trường thiên nhiên, loài cua Đá này sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh và bền vững hơn nhiều.

6. Kết luận

Tiếp cận phát triển cộng đồng trên cơ sở tài sản, nguồn lực địa phương, đồng thời với đầu tư xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức, tiếp cận sinh kế thay thế trên cơ sở bảo tồn đã và đang tạo điều kiện cho người dân hưởng lợi trực tiếp từ bảo tồn. Mở rộng mô hình cho các đối tượng tài nguyên mục tiêu khác trong khu bảo tồn, xây dựng mô hình tổng hợp cho quản lý hệ sinh thái và vùng bờ là những nhu cầu tiếp theo của quá trình bảo tồn và phát triển. Cùng với chính quyền địa phương và các bên liên quan, tổ cộng đồng đã thực nghiệm một phương thức khai thác cua Đá có kiểm soát, cua Đá được khai thác với số lượng cho phép, không mang trứng, theo mùa vụ và kích thước chiều ngang mai cua không nhỏ hơn 7cm. Cua Đá được khai thác từ tháng 1/3 đến 31/7 hàng năm với số lượng lớn hơn 7.000 con. Cua Đá đạt tiêu chuẩn quy định sẽ được dán nhãn và được bán trên thị trường một cách hợp lệ. Cua Đá Cù Lao Chàm là động vật ưa ẩm và môi trường sống giàu côn trùng, và thực vật đa dạng. Vì vậy, người dân địa phương đã tham gia tích cực vào bảo vệ rừng để hưởng được nguồn lợi cao về cua Đá, góp phần đáng kể vào bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Đồng thời đây cũng là sinh kế cộng đồng hiệu quả gắn kết bảo tồn, bảo vệ môi trường, giảm thiểu biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xã hội địa phương hiện nay và trong tương lai. Sáng kiến được nghiên cứu hỗ trợ cải thiện chính sách quản lý tài nguyên môi trường một cách hiệu quả.

Chu Mạnh Trinh - Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam

 
 

Kết quả nghiên cứu thành phần loài, trữ lượng và sản lượng khai khác giống trai tai tượng (Tridacna), bàn mai (Pinna) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An

PDF.InEmail

Thứ hai, 05 Tháng 6 2017 08:38 Số truy cập:232

Nguyễn Văn Vũ(1), Phạm Văn Hiệp(1), Nguyễn Văn Hiếu(2), Đồng Thị Dung(2)

1. Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, 03 Nguyễn Huệ, Hội An

2. Viện Hải sản Hải Phòng, 224 Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng

TÓM TẮT

Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu về thành phần loài, trữ lượng tức thời và sản lượng khai thác giống Trai tai tượng (Tridacna) và giống Bàn mai (Pinna) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Đề tài thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2016. Phương pháp sử dụng thu thập số liệu chính là bảng hỏi điều tra và lặn quan sát trực tiếp theo qui trình hướng dẫn của English & Baker. Kết quả nghiên cứu xác định được 03 loài Trai tai tượng, với 3.507 cá thể và 03 loài Bàn mai với 43.160 cá thể. Năm 2013, sản lượng khai thác Trai tai tượng và Bàn mai lần lượt là 2.589 cá thể và 57.622 cá thể. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn lợi Trai tai tượng và Bàn mai tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

Đọc thêm...

 
 

Trang 1 trong tổng số 7

..
 
Keonhacai