Nghiên cứu phát triển

Tam Hải, Núi Thành, Quảng Nam tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững

PDF.InEmail

Thứ sáu, 18 Tháng 8 2017 10:28 Số truy cập:280

Được gọi là đảo, nhưng không xa lắm từ đất liền, chỉ cách một dòng sông, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, được che chắn bởi những dải đá trầm tích biến chất hàng trăm triệu năm tuổi và bao bọc chung quanh bởi 2 nguồn nước mặn và ngọt. Từ đó, nơi đây một nguồn tài nguyên phong phú, một cảnh quan môi trường nền nã được hình thành, tuy nhiên trong những năm qua, những giá trị ấy hầu như chưa được khơi dậy. Việc nhận diện những giá trị nỗi trội, tài sản cộng đồng hỗ trợ cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, ngoài những gì từ thiên nhiên, văn hóa, các đóng góp từ cộng đồng cũng cần được tổng hợp và khôi phục nhân rộng. Thông qua việc rà soát hoạt động đóng góp, nỗ lực bảo tồn tại địa phương trước đây, báo cáo đã kiến nghị các giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng phục vụ cải thiện sinh kế người dân, kinh tế xã hội Tam Hải, Núi Thành.

1. Nhu cầu bảo tồn

Tam Hải thuộc huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam với diện tích 455,75 ha, dân số 1.887 hộ, khoảng 8.500 nhân khẩu là một xã nghề cá ven biển nằm tách biệt với đất liền, bao bọc xung quanh là biển và sông Trường Giang, thông qua 2 cửa sông là Cửa Lở ở phía Bắc và cửa An Hòa ở phía Đông Nam thuộc vũng An Hòa.

Theo kết quả nghiên cứu gần đây, xã đảo Tam Hải hiện đang sở hữu một vùng biển có hơn 90 ha rạn san hô, với khoảng 100 loài, trong đó phần lớn là san hô gạc nai và san hô khối. Hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải có 41 loài rong biển, 168 loài cá, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế như cá hồng, cá mú, cá lượng, cùng với tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi và nhiều loài ốc đẹp. Một số loài thuỷ sinh có thể dùng làm dược liệu. Tổng số các loài này được ghi nhận còn nhiều hơn so với quần đảo Cù Lao Chàm, nơi có một Khu bảo tồn biển mang cùng tên. Đặc biệt, các rạn san hô tại xã đảo Tam Hải còn nuôi dưỡng một nguồn giống quan trọng cho vùng biển này. Hằng năm, người ngư dân Tam Hải thu hoạch hàng vạn cá thể tôm hùm giống, cung cấp đến các vựa nuôi trồng thuỷ sản tại các tỉnh phương nam. Các loài rong biển trong vùng nước Tam Hải không những tạo môi trường sống, bãi đẻ, nơi trú ẩn, nuôi dưỡng con non cho các loài tôm, cá, cua, ghẹ…mà hàng năm còn cung cấp cho cộng đồng ngư dân của xã một nguồn sinh khối đáng kể, mang lại một nguồn thu lớn cho các hộ gia đình thông qua việc thu hoạch rong mơ và một số loài thực vật khác. Rừng ngập mặn Tam Hải cùng với các xã khác của huyện Núi Thành đã tạo nên một diện tích trước đây rộng khoảng trên 220 ha, tuy nhiên chỉ còn lại khoảng 63 ha (năm 1997) và hiện nay khoảng 10 ha, do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh, rừng ngập mặn đã bị người dân chặt phá làm muối, đào đắp ao nuôi tôm. Hơn 90% người ngư dân Tam Hải với khoảng 200 tàu thuyền đánh bắt công suất nhỏ, sống dựa vào nghề biển ven bờ, khai thác giá trị trực tiếp từ hệ sinh thái rạn san hô, quần cư rong mơ, bãi biển đem lại. Chỉ tính riêng nguồn lợi tôm hùm giống khai thác từ các rạn san hô, hàng năm người dân thu được hàng chục tỷ đồng, cùng với khoảng 200 tấn rong mơ mỗi ngày khi đến mùa. Tuy nhiên, do áp lực của sự phát triển kinh tế trong khu vực, sự gia tăng dân số và nhu cầu đời sống của người dân ven biển, mà trong nhiều năm qua hệ sinh thái rạn san hô khu vực Tam Hải, ngày càng đứng trước những đe doạ nặng nề của việc khai thác nguồn lợi thiếu kiểm soát, giẫm, đạp lên san hô, đánh bắt các cá thể chưa trưởng thành, chưa đến mùa vụ, ô nhiễm rác thải, và nước thải.

Để giảm bớt các rủi ro ngày càng đè nặng lên khu hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải, ngay từ những ngày đầu của năm 2003, cộng đồng Tam Hải đã cộng tác với Trung tâm bảo tồn sinh vật biển (MCD) tuyên truyền vận động bà con ngư dân tham gia hoạt động tìm hiểu giá trị của rạn san hô, làm sạch bãi biển, thành lập các tổ hạt nhân tuần tra, giám sát việc chấp hành các quy định trong khai thác, đánh bắt nguồn lợi thuỷ sản tại địa phương.

Thời gian từ năm 2006 đến 2008, người ngư dân địa phương và đặc biệt là nhóm hạt nhân đã cộng tác với các nhà khoa học của Viện Hải Dương Học Nha Trang trồng phục hồi được 1.300 tập đoàn san hô trên 120 giá thể nhân tạo và bề mặt nền đá gốc, tại sườn Đông Nam đảo Hòn Dứa, ở độ sâu 2-6m trong diện tích 500m2 mặt nước, có vùng đệm bảo vệ là 5 ha. Từ 2009 đến những năm gần đây, cộng đồng xã đảo Tam Hải đã cùng với Hội Phụ nữ huyện Núi Thành thực hiện Dự án bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải, góp phần bảo vệ môi trường biển và phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại địa phương, theo sự hợp tác hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu.

B-Nuithanh16082017-01

Hình 1: Truyền thông Khu Bảo vệ Hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải

Hoạt động bảo tồn hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải được khởi đầu từ thôn Thuận An, nơi các xóm chài được bao bọc bởi những bãi cát và vách đá xen kẻ nhau kết liền với những rạn san hô theo chiều dài 4 km bờ biển, và hơn 364 hộ gia đình với 1.426 nhân khẩu, sinh sống chủ yếu từ khai thác, đánh bắt hải sản trong rạn và vùng biển ven bờ. Một lần nữa cộng đồng đã tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức và chia sẻ trách nhiệm giữa các bên liên quan đối với tài nguyên và môi trường biển, đảo của địa phương; tham dự hội thảo, tham quan học tập, chia sẻ kinh nghiệm tại các khu bảo tồn biển Nha Trang, Rạn Trào, Cù Lao Chàm. Đặc biệt, trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả đạt được từ các nỗ lực trước đây mà cộng đồng đã cộng tác tích cực trong các hoạt động với MCD và Viện Hải Dương Học Nha Trang, bà con ngư dân thôn Thuận An đã thảo luận, xây dựng quy hoạch phân vùng và cam kết quy chế quản lý khu bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải. Đồng thời, người dân đã bầu chọn các tổ cộng đồng bao gồm tổ tuần tra giám sát rạn san hô, tổ du lịch sinh thái, tổ thu gom, xử lý rác thải. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ nhiệt tình của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF SGP), cộng đồng đã trang bị một số các cơ sở vật chất như tàu tuần tra, giám sát, nhà du lịch cộng đồng, thúng đáy kính, áo phao, đồ lặn, bảng hiệu...và một số vốn vay chuyển đổi sinh kế cho các chị em phụ nữ nghèo khai thác trong vùng rạn, nhằm tăng cường cho các hoạt động bảo vệ và khai thác hợp lý khu hệ sinh thái rạn san hô này.

B-Nuithanh16082017-02

Hình 2: Phạm vi Khu Bảo vệ Hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải (GEF SGP - 2013).

Hoạt động bảo tồn đã thành lập được một khu bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô cấp cộng đồng với tổng diện tích 1.700 ha trong đó vùng lõi rộng 13,12 ha; vùng khai thác hợp lý 1.537 ha và vùng phát triển cộng đồng rộng 54,5 ha, vùng phát triển du lịch rộng 50 ha, phần còn lại bao gồm vùng Mũi Bàn Than, Hòn Dứa, Hòn Mang. Đồng thời đã xây dựng được quy chế hoạt động của khu bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô nhằm bảo vệ được các chủng loài mục tiêu như san hô, cỏ biển, rong biển và đặc biệt trong đó có vùng lõi và vùng khai thác hợp lý. Tại các vùng này, các quy định cụ thể nhằm giảm áp lực khai thác thông qua việc cấm và hạn chế các ngành nghề khai thác mang tính huỷ diệt, hoặc cấm thời vụ, hoặc cấm theo đối tượng khai thác. Hoạt động bảo tồn cũng đã hình thành được các tổ cộng đồng, trong đó có tổ vệ sinh môi trường làm hạt nhân trong việc quản lý rác thải tại địa phương, góp phần làm sạch rác thải trong thôn.

Rừng ngâp mặn là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với đời sống con người, tuy nhiên trong thời gian gần đây rừng ngập mặn đã và đang bị suy thoái một cách nhanh chóng. Rừng ngập mặn tại Quảng Nam mà cụ thể là tại Tam Hải, Núi Thành cũng không tránh khỏi những nguy cơ trầm trọng như vậy. Rừng ngập mặn ở Cồn Si (thôn Long Thạnh Tây, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) thuộc vũng An Hòa, nơi sinh sống của hơn 96 hộ gia đình trên vùng cồn cát bãi bồi cửa sông, là một trong những diện tích rừng đã và đang chịu tác động mạnh bởi áp lực phát triển kinh tế phục vụ nhu cầu của con người. Cây ngập mặn phân bố chủ yếu ven bờ phía Bắc và Đông Bắc của Cồn Si với chiều rộng ước tính khoảng từ 20 – 100 m, tổng diện tích có rừng còn lại vào khoảng hơn 10ha (Viện hải Dương học, 2010), tuy trên thực tế khảo sát chỉ còn 7,5 ha. Các loài ngập mặn chính thức phổ biến ở đây bao gồm: Mắm, Bần, Đước, Đưng, Sú, Vẹt, Cóc, Giá. Các nghiên cứu cũng đã xác định một số tác động gây suy thoái rừng ngập mặn tại đây như xây dựng khu dân cư, ao, đìa thủy sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác quá mức, khai thác mang tính hủy diệt nguồn lợi. Một trong những biện pháp nhằm phục hồi lại tài nguyên và môi trường nói chung và rừng ngập mặn nói riêng là cần phải dựa vào cộng đồng, tuy nhiên để làm được việc này các sinh kế của người dân địa phương phụ thuộc vào rừng ngập mặn cần phải được cải thiện một cách bền vững.

Theo nhận xét của bà con sinh sống lâu năm tại Cồn Si, ngoại trừ cây Đưng được du nhập từ các tỉnh phía Nam trồng ở Cồn Si khoảng hơn 10 năm nay, các loài còn lại là những loài bản địa, tồn tại lâu đời tại khu vực này. Thông qua quan sát trên thực địa có thể dễ nhận thấy tất cả các loài kể trên vẫn có khả năng sinh trưởng tốt trên địa bàn này và đây là một trong những tiền đề quan trọng đặt cơ sở khôi phục và mở rộng thêm diện tích rừng ngập mặn.

Hoạt động bảo tồn đã giới thiệu hình thức du lịch sinh thái trên cơ sở bảo tồn vùng rạn san hô và rừng ngập mặn đến cộng đồng, hỗ trợ vốn vay cho 20 hộ gia đình nghèo khai thác nguồn lợi trong khu bảo vệ có điều kiện tiếp cận và tham gia một số sinh kế thay thế nhằm nâng cao thu nhập ngoài việc khai thác thủy sản. Dự án cũng đã tổ chức thử nghiệm các tour du lịch sinh thái thí điểm tại địa phương như chuyến tham quan của đoàn các dự án GEF SGP về Tam Hải cho cộng đồng học tập. Thông qua việc tham quan các mô hình bảo tồn và phát triển du lịch tại các khu bảo tồn biển như Hòn Mun, Cù Lao Chàm, Rạn Trào…cộng đồng đã bắt đầu tiếp cận các hình thức cung cấp dịch vụ du lịch sinh thái cho người tham quan đến địa phương.

2. Bảo tồn hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập Tam Hải

Mặc dù, Tam Hải đã có một thời gian tiếp cận, thực hiện và nhiều nỗ lực về các hoạt động bảo tồn tài nguyên biển tại địa phương, tuy nhiên trong thời gian qua, Tam Hải chưa đề cập đến các dịch vụ của hệ sinh thái mang lại cho con người, như chất lượng nguồn nước, điều hòa khí hậu, vùng giống, nơi ở, nuôi con non, chống xói lở, bãi đẻ, duy trì nguồn lợi, tạo cảnh quan. Tam Hải cũng chưa đề cập đến chức năng cung cấp thông qua cấu trúc hệ sinh thái, như các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng cửa sông, bãi biển, rừng phòng hộ ven biển. Trong khi cấu trúc hệ sinh thái là nền tảng của sự hình thành các chức năng dịch vụ của hệ sinh thái và là tiền đề của các lợi ích mà hệ sinh thái mang lại cho con người. Một khi cấu trúc hệ sinh thái bị phá vở thì phải mất hàng chục hoặc trăm năm mới gầy dựng lại được, đôi khi mất vĩnh viễn như rừng ngập mặn bị san lấp, rạn san hô bị chết, bãi biển làm nơi chôn rác thải. Hiện nay cấu trúc hệ sinh thái và sức khỏe hệ sinh thái như rạn san hô, thàm cỏ biển, rừng ngập mặn, bãi biển, vùng cửa sông Tam Hải đã và đang bị uy hiếp, tổn thương. Tam Hải có thể nhận thấy điều này một cách dễ dàng qua quan sát, qua các kết quả nghiên cứu, đánh giá chất lượng môi trường và đa dạng sinh học.

B-Nuithanh16082017-03

Hình 3: Khai thác hủy diệt (lưới lồng) trong rừng ngập mặn Tam Hải

Vì vậy không phải là quá muộn mà cũng không phải là quá sớm để thảo luận và có giải pháp hành động vì sự phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường tại Tam Hải; tuy nhiên cũng sẽ là quá trễ nếu Tam Hải không hành động bây giờ vì các tác động bao giờ cũng mang tính tích lũy, thông qua các sự cố (shock) và ảnh hưởng diễn biến (stress). Một hệ sinh thái khỏe mạnh thông thường thể hiện rõ 4 chức năng cơ bản bao gồm chức năng hỗ trợ, cung cấp, điều hòa và duy trì các giá trị văn hóa. Trên cơ sở các chức năng này, các hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ sinh thái và thông qua đó, con người được thừa hưởng các lợi ích từ thiên nhiên mang lại phục vụ cho đời sống của mình. Trong quá trình phát triển, con người xúc tiến các hoạt động kinh tế xã hội với không ít các hình thức khai thác, sử dụng các lợi ích thiên nhiên đó đáp ứng nhu cầu sống hằng ngày. Và cũng chính vì chỉ tập trung khai thác các lợi thế, thiếu đầu tư phục hồi, nên con người đã và đang ngày càng làm tổn thương cạn kiệt nguồn lực tài nguyên, mà đáng lý ra chúng ta được và sẽ được hưởng lớn hơn rất nhiều. Vì vậy chúng ta cần phải có một cách tiếp cận phù hợp, ứng xử phù hợp với thiên nhiên. Một trong những định hướng đó là đã đến lúc con người phải hợp tác lại, cùng đồng hành trong quản lý và bảo vệ thiên nhiên. Để đảm bảo cho phát triển bền vững tại Tam Hải, sức khỏe các hệ sinh thái đặc trưng tại vùng này bao gồm rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, vùng cửa sông cần phải được quan tâm theo những hành động cụ thể từ việc xây dựng khu bảo tồn hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn Tam Hải. Phần này chúng ta cần nhanh chóng phục hồi lại những kiến thức, kinh nghiệm, phong trào mà Tam Hải đã từng được hỗ trợ, phát động và tiến hành trong thời gian trước đây.

3. Bảo vệ môi trường, xử lý rác thải

Bảo vệ môi trường, xử lý rác thải tại Tam Hải cần phải được quan tâm và tiến hành các hoạt động ưu tiên một cách mạnh mẽ nhằm tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội, sức khỏe cộng đồng tại địa phương. Bảo vệ môi trường và xử lý rác thải tại Tam Hải có thể được tiếp cận theo đề nghị sau:

B-Nuithanh16082017-04

Hình 4: Tờ rơi phân loại rác tại nguồn

B-Nuithanh16082017-05

Hình 5: Mô hình đồng quản lý rác thải sinh hoạt kiến nghị tại Tam Hải

Giải thích các kí hiệu trên hình 5

B-Nuithanh16082017-06

Giải thích ý nghĩa của hình 5

A. Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Tam Hải

Con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Tam Hải được bắt đầu từ bước phát sinh đến phân loại rác qua thu gom và điểm đến cuối cùng.

“Bước phát sinh”: Rác thải sinh hoạt tại Tam Hải được ra đời từ 4 nguồn phát sinh chính đó là (1) hộ gia đình, (2) nhà hàng, khách sạn, (3) chợ, trường học, cơ quan, (4) đường phố, nơi công cộng.

“Phân loại rác”: Rác thải được phân thành 3 nhóm riêng biệt là rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại nguồn.

“Thu gom” là biểu hiện của giai đoạn rác thải được thu gom từ khắp nơi trong thành phố và được đưa về các điểm đến cuối cùng. Thực hiện hoạt động thu gom rác thải được đề nghị chủ yếu là 3 lực lượng chính, đó là đơn vị thu gom xử lý huyện, các tổ thu gom tự quản và đội ngũ những người thu mua ve chai của địa phương.

“Điểm đến cuối cùng” là nơi hoặc là không gian mà rác được đưa về tập kết tại Tam Hải một thời gian dài hoặc được chế biến vận chuyển ra ngoài địa bàn Tam Hải. “Điểm đến cuối cùng được đề nghị trên con đường đi của rác thải sinh hoạt tại Tam Hải là bãi rác huyện Núi Thành, điểm compost cộng đồng, hộ gia đình và các cơ sở thu mua phế liệu..

Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tại Tam Hải vẫn còn một lượng đáng kể phát tán không kiểm soát được một cách tự do ngoài môi trường tại các bãi đất “hoang”, sông ngòi, bãi biển. Lượng rác thải sinh hoạt phát tán này sẽ được thu gom thông qua các phong trào dọn vệ sinh, làm sạch bãi biển, dòng sông chung tại Tam Hải và các xã lân cận.

B. Quản lý rác thải sinh hoạt tại Tam Hải

Quản lý rác thải sinh hoạt tại Tam Hải sẽ được thể hiện rõ nét qua hai mối quan hệ chỉ đạo và hợp tác. Mối quan hệ chỉ đạo thực hiện các quy định về quản lý rác thải sinh hoạt tại Tam Hải được thể hiện theo con đường quản lý Nhà nước từ UBND Núi Thành phố xuống UBND Xã Tam Hải, Thôn và Tổ Nhân dân thông qua sự tham mưu trực tiếp của Phòng Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời mối quan hệ chỉ đạo còn được thể hiện trực tiếp từ UBND huyện/xã xuống đơn vị thu gom, xử lý tại bãi rác Núi Thành, điểm compost cộng đồng. Mối quan hệ hợp tác được thể hiện tư vấn kỹ thuật, giáo dục, truyền thông về quản lý rác thải sinh hoạt tại Quảng Nam, Núi Thành, Tam Hải giữa các bên liên quan, hội đoàn thể, tổ chức quốc tế đến cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức, năng lực thực hiện hiệu quả các hoạt động quản lý rác thải tại địa phương.

 

B-Nuithanh16082017-06-01

Hình 6: Rác thải bắt đầu tấn công các điểm du lịch tại Tam Hải

4. Tổ chức hoạt động du lịch sinh thái Tam Hải

Tổ chức hoạt động du lịch tại Tam Hải cần phải thực hiện theo các nguyên tắc thỏa mãn nhu cầu của du khách, trên cơ sở 2 khái niệm được phân biệt là: chất lượng dịch vụ sinh thái (phần này do thiên nhiên mà cụ thể là các kiểu hệ sinh thái tại Tam Hải cung cấp thông qua hoạt động bảo tồn và phát triển); chất lượng dịch vụ du lịch (phần này do các công ty du lịch và người dân cung cấp). Đồng thời 2 chất lượng dịch vụ này có liên quan với nhau thông qua việc chia sẻ lợi ích thu được từ dịch vụ sinh thái đến người dân và công ty du lịch. Hiện nay thách thức lớn nhất và khó khăn lớn nhất đối với sự bền vững của du lịch sinh thái Tam Hải là sự suy giảm chất lượng dịch vụ sinh thái, ngoài giá trị các dải đá trầm tích biến chất với niên đại hàng trăm triệu năm tuổi; đó là bãi biển quá nhiều rác, nghèo cá tôm, cảnh quan môi trường biển và rừng ngập mặn và phòng hộ ven biển bị nham nhở và sự không cân bằng về phân chia lợi ích thu được từ dịch vụ du lịch cũng như chất lượng dịch vụ sinh thái. Vì vậy nếu chúng ta không chú ý đến việc nâng cao hoặc cũng cố lại chất lượng dịch vụ sinh thái và chất lượng dịch vụ du lịch cũng như sự mất cân bằng trong phân chia lợi ích giữa cộng đồng người dân địa phương và công ty dịch vụ du lịch thì những nỗ lực khác như quảng bá, kêu gọi đầu tư, miễn phí du khách đến Tam Hải… e rằng sẽ rất khó hiệu quả. Đã đến lúc để cho du lịch sinh thái Tam Hải được mở rộng và phát triển bền vững có nghĩa là được ổn định lâu dài, chúng ta cần quan tâm đến đối tượng của chúng ta là nhu cầu của du khách. Mà nhu cầu đó cần được đo đạc đến mức độ khách du lịch biết đến Tam Hải, hiểu Tam Hải, hòa mình vào Tam Hải và tự đánh giá Tam Hải là điểm đến hữu ích, xứng đáng với đồng tiền, thời gian của du khách bỏ ra. Vì vậy để hỗ trợ cho phát triển du lịch sinh thái tại Tam Hải, ngoài nhiệm vụ bảo tồn cần được phục hồi, tổ chức, vận hành như thảo luận ở trên, thì chất lượng các hoạt động du lịch cần phải quan tâm tiếp theo hơn là các đầu tư công trình. Các hoạt động du lịch cần phải được tổ chức thế nào để du khách có thể cảm thấy đói, khát, mệt, thèm thuồng khi đến với Tam Hải và như vậy Tam Hải cần phải có những khoảng không gian rộng để thỏa mãn các hoạt động cơ bắp, sáng tạo, thẩm mỹ…Các bãi biển dài, rộng từ Bãi Bấc, Bãi Nồm đáp ứng đủ điều kiện đó để du khách có thể tham gia các hoạt động thể thao trên cạn như bóng đá, bóng chuyền bãi biển, chạy, đi bộ…Các vùng rạn san hô và các thảm rong biển đi kèm bọc chung quanh các Hòn Mang, Hòn Dứa đáp ứng đủ các các hoạt động thể thao dưới nước như bơi, lặn, ngắm, xem cảnh quan dưới nước. Các dải đá trầm tích biến chất hàng trăm triệu năm tuổi phơi bày nền nã đủ để du khách có thể lội bộ, tìm kiếm, chiêm ngưỡng, nghiên cứu, học tập. Một khoảng không gian rộng của vũng An Hòa, nơi du khách có thể du thuyền thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, các làng chài, sự tập nập của cảng cá, đô thị biển, hoặc hiện đại hơn là hoạt động cảng biển Kỳ Hà…Xuôi ngược dòng sông từ vùng cửa biển là các dải rừng ngập mặn, nơi có thể tìm thấy sự dập diều của các đàn chim dư cư khi mùa đông về hoặc hè đến. Mệt và mỏi với hoạt động biển, du khách nhanh chóng trở về với làng chài về với các câu chuyện cộng đồng với các giới thiệu văn hóa mà người dân Tam Hải đã cùng với hòn đảo này sinh sống bao đời nay. Và cũng từ đó các nhu cầu cơ bản của đời sống du khách sẽ gia tăng, nhu cầu ăn, uống, ngủ, nghỉ…gia tăng một cách bình thường, giảm nhẹ các đề cập đến những yêu cầu quá ư xa xỉ, hiếm, quý tại địa phương, trong khi những sản vật này đang trong tình trạng cần được phục hồi.

Di sản thiên nhiên và văn hóa bao gồm rừng phòng hộ ven biển, rừng ngập mặn, vùng cửa sông, rạn san hô, thảm cỏ biển, cảnh quan môi trường, cùng với tài nguyên nhân văn…phải được tuyệt đối bảo vệ, gìn giữ. Sinh kế của người dân địa phương bao gồm đánh bắt thủy sản và nông nghiệp phải được duy trì và phát triển, theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận hệ sinh thái. Du lịch sinh thái được đầu tư cân bằng và hợp lý giữa các vùng từ thượng nguồn ra đến biển lớn. Phần biển đảo du lịch sinh thái nên chú trọng chính yếu vào chất lượng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên như: bãi biển dài, rộng, trắng, sạch; làn nước biển trong xanh ngọc bích; cảnh quan địa chất, rạn san hô, thảm cỏ biển, đa dạng sinh học biển….Phát triển dịch vụ du lịch đặc biệt ưu tiên và chỉ dành cho người dân địa phương trên đảo và mang tính chất hoạt động tích cực như đi bộ, đi xe đạp, homestay, snorkeling, diving, thể thao bãi biển. Ưu tiên phát triển dịch vụ ăn uống nhanh không sử dụng nguồn cá, tôm, động thực vật tự nhiên của đảo. Ưu tiên phát triển các dịch vụ hỗ trợ du lịch học tập, nghiên cứu, đào tạo đến từ các trường học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn, resort được phân bố trong vùng đất liền ven biển.

5. Bài học kinh nghiệm và ý tưởng đề xuất

Mặc dầu kết quả mang lại từ các hoạt động bảo tồn, bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn Tam Hải mới chỉ là bước đầu, như những ánh bình minh đang trổi dậy, nhưng những nỗ lực của cộng đồng bà con ngư dân Tam Hải trong hơn 10 năm qua là vô cùng to lớn và đầy ý nghĩa trong sự nghiệp bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và môi trường tại địa phương. Trong thời gian đến, cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức, sự chia sẻ trách nhiệm của các bên liên quan, sự tham gia và nỗ lực của cộng đồng, hy vọng rằng, bà con nhân dân Tam Hải chúng ta sẽ chung tay gìn giữ, bảo vệ môi trường, cảnh quan, các rạn san hô và nguồn lợi sinh vật đi kèm, để khai thác, sử dụng được lâu dài, bền vững, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Sự hình thành và phát triển Khu Bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn, di sản địa chất Tam Hải, Núi Thành sẽ cùng với Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Khu bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh, Hội An, Công viên Địa chất Lý Sơn tạo thành một mạng lưới bảo tồn biển và di sản Quảng Nam – Quảng Ngãi góp phần gia tăng lợi ích của bảo tồn, làm giàu nguồn lợi sinh vật biển, nâng cao hiệu quả khai thác và cải thiện đời sống của bà con ngư dân ven biển của chúng ta, và phát triển kinh tế xã hội địa phương và vùng.

Đề nghị khung quản lý bảo tồn và phát huy các giá trị địa chất, cảnh quan môi trường vùng Tam Hải phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Tiếp cận bảo tồn để phát triển kinh tế xã hội, di sản và quản lý di sản! Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên tại xã đảo Tam Hải được mô tả bao gồm: nền đá trầm tích biến chất với niên đại hàng trăm triệu năm, các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, vùng cửa sông. Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên này cùng với con người Tam Hải đã tạo nên các giá trị văn hóa và cộng đồng tại đây. Thiên nhiên, văn hóa, cộng đồng đã tạo nên Di sản; Như vậy Di sản được cấu thành bao gồm: Tài sản và giá trị dịch vụ (dịch vụ sinh thái, giá trị văn hóa). Quản lý di sản theo kiểu truyền thống là quản lý nhà nước cả về tài sản và giá trị dịch vụ. Cách quản lý này bộc lộ nhiều hạn chế như thiếu nguồn lực đầu tư cho sự gia tăng giá trị dịch vụ. Vì vậy Nhà nước cần sự chia sẻ hoặc sự tham gia cùng quản lý với các thành phần cơ bản trong xã hội bao gồm nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân địa phương. Một vài ví dụ cho sự chia sẻ quản lý trong thực tế như: trường hợp Ninh Bình (chia sẻ giữa Nhà nước và Doanh nghiệp); Bảo tàng Dân tộc học (chia sẻ giữa Nhà nước và nhà khoa học); Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (chia sẻ giữa Nhà nước, nhà khoa học và người dân). Tuy nhiên một sự chia sẻ hoàn hảo là sự chia sẻ giữa 4 thành phần cơ bản của xã hội là Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân địa phương. Trường hợp bảo tồn và phát huy giá trị di sản tại xã đảo Tam hải là thí điểm về sự chia sẻ giữa 4 nhà này. Quản lý Di sản được chia sẻ giữa 4 nhà này được gọi là quản lý tổng hợp hoặc gần đây được thể hiện là xã hội hóa. Trong Di sản, phần tài sản vẫn thuộc quyền quản lý duy nhất là quản lý Nhà nước. Phần giá trị dịch vụ được kêu gọi cho xã hội hóa hoặc quản lý tổng hợp.

Ví dụ về trường hợp bảo tồn biển Cù Lao Chàm, phần giá trị dịch vụ được chia sẻ giữa Nhà nước, nhà khoa học và người dân, với sự hỗ trợ ban đầu từ Đan Mạch cho giai đoạn 2003 – 2006: 1 triệu USD, giai đoạn 2006 – 2009: 1,5 triệu USD. Thu vé dịch vụ (riêng về du lịch), bắt đầu từ 2007, tuy nhiên đáng kể nhất là từ 2009 đến nay. Từ năm 2018 dự tính thu mỗi năm 50 tỷ VNĐ (vé tham quan Cù Lao Chàm: 70.000 VNĐ/người x 700.000 du khách; tương đương với đầu tư cho giai đoạn từ 2003 – 2009). Như vậy giả sử nếu không có sự hỗ trợ từ Đan Mạch và Chính phủ Trung ương thì Chính phủ địa phương Quảng Nam phải đầu tư 50 tỷ VND cho xây dựng Bảo tồn biển cho giai đoạn từ 2003 – 2009. Hoặc là phải kêu gọi sự chia sẻ từ doanh nghiệp cho nguồn lực đầu tư này và có chủ trương chia sẻ nguồn thu từ vé tham quan sau này để doanh nghiệp thu hồi lại vốn ban đầu. Trường hợp Bảo tồn Tam Hải cũng tương tự: Cần một cơ chế chia sẻ quản lý giá trị dịch vụ theo phương thức xã hội hóa hoặc quản lý tổng hợp. Vì vậy cần đầu tư chia sẻ ban đầu từ doanh nghiệp và tạo cơ chế thu hồi vốn thông qua vé tham quan được bán cho du khách.

Tuy nhiên, doanh nghiệp tham gia vào xã hội hóa hoặc quản lý tổng hợp với vai trò là điều phối hoạt động bảo tồn phải là những doanh nghiêp với phẩm chất cao mang bản chất của một nền kinh tế xanh, kinh tế bảo tồn, kinh tế hiện đại. Tham gia kinh tế xanh, kinh tế bảo tồn và là kinh tế hiện đại, bản chất doanh nghiệp đó được thay đổi, đầu tiên tập trung vào lợi ích cộng đồng, lợi ích của thiên nhiên và sau cùng mới là lợi ích của doanh nghiệp (không bố thí). Trong khi hướng kinh tế truyền thống, kinh tế không thân thiện với môi trường thì phần lớn doanh nghiệp tập trung vào tối đa lợi nhuận cho mình trên cơ sở kinh doanh không vi phạm pháp luật và sau đó đánh bóng tên tuổi mình bằng chiến lược bố thí, nhân đạo.

B-Nuithanh16082017-07

Hình 7: Mối quan hệ giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học, người dân và doanh nghiệp bảo tồn với chức năng điều phối hoạt động bảo tồn.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, sinh kế cộng đồng phụ thuộc và nguồn tài nguyên và môi trường cần phải điều tra, khảo sát một cách đầy đủ theo các nguồn lực bao gồm tự nhiên, xã hội, năng lực con người, tài chính và vật chất, cơ sở hạ tầng. Đồng thời để dễ dàng cho cộng đồng tiếp cận với việc phân tích hiện trạng quản lý tài nguyên và môi trường tại các địa phương, khung hệ thống DPSIR (dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động và giải pháp) cần được áp dụng. Đáp ứng yêu cầu trên, khung nghiên cứu điều tra, khảo sát hiện trạng quản lý sử dụng tài nguyên môi trường và sinh kế tại Tam Hải, Núi Thành, Quảng Nam làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển hợp lý tại địa phương được đề nghị (Hình 8).

B-Nuithanh16082017-08

Hình 8: Khung nghiên cứu xây dựng bảo tồn và phát triển Tam Hải

+ Hoạt động cần triển khai năm 2017 - 2018

- Thành lập tổ công tác xây dựng Kế hoạch quản lý Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Tam Hải, Núi Thành…, bao gồm các thành phần:

- Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch Quảng Nam

- Các Sở Ban Ngành liên quan bao gồm: TN&MT, Nông nghiệp, Công thương, Giáo dục&Đào tạo, KH&CN….

- UBND huyện Núi Thành, Xã Tam Hải…

- Doanh nghiệp xanh, bảo tồn

- Cộng đồng, doanh nghiệp…

- Hội Đoàn thể…

- Tập huấn tổ công tác về xây dựng kế hoạch quản lý Bảo tồn và phát huy giá trị di sản xã đảo Tam Hải…

- Triển khai xây dựng kế hoạch quản lý Bảo tồn và phát huy giá trị di sản xã đảo Tam Hải…

- Xác định chiến lược xây dựng và phát triển Bảo tồn và phát huy giá trị…

- Quan hệ quốc tế,

- Nghiên cứu,Đào tạo

- Truyền thông, giáo dục

- Vệ sinh môi trường

- Sinh kế cộng đồng, du lịch sinh thái

- Bảo vệ, bảo tồn di sản văn hóa

- Bảo vệ, bảo tồn tài nguyên vùng cửa sông ven bờ…

- Thông tin dữ liệu (thư viện, tạp chí, trang web,…)

- Bảo tàng (trưng bày…)

- Cứu nạn, cứu hộ

- Giám sát, đánh giá

- Quản lý vé (giá, khách hàng…)

- Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động (nhà trưng bày, làm việc, nghiên cứu, đào tạo, trang thiết bị….)

- Tổ chức bán vé tham quan (tạo nguồn thu, chi phí hoạt động…)

- Hội thảo, phê duyệt kế hoạch quản lý bảo tồn…

6. Kết luận

Tam Hải được nhận diện cho sự phát triển bền vững về sinh kế cộng đồng, phát triển kinh tế xã hội không chỉ bao gồm giá trị di sản thiên nhiên từ cảnh quan địa chất với những dải đá hàng triệu năm tuổi kỳ vỹ, đường nét, của sự phong phú các kiểu hệ sinh thái đặc trưng, sự giàu có nguồn lợi sinh vật, của văn hóa làng chài, mà còn là những nỗ lực, những đóng góp của bà con ngư dân mong muốn có được các hoạt động bảo tồn, bảo vệ môi trường cùng với các thành phần liên quan trong những năm qua. Mặc dù, có sự gián đoạn trong duy trì và phát triển các kết quả nghiên cứu, ứng dụng, hành động của bảo tồn, tuy nhiên những kiến thức và kinh nghiệm này của cộng đồng sẽ là nguồn lực quý báu đóng góp cho sự phục hồi, phát triển bảo tồn tại Tam Hải, góp phần cải thiện sinh kế và kinh tế xã hội địa phương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lương Quang Đốc, Phan Thị Thúy Hằng (2012), Trồng phục hồi, chăm sóc, bảo vệ và khai thác bền vững rừng ngập mặn, Sổ tay kỹ thuật, Dự án tăng cường năng lực địa phương trong quản lý bền vững đất ngập nước tỉnh Quảng Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam.

[2] Nguyễn Xuân Hòa (2010), Điều tra, khảo sát hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở đầm An Hòa (tỉnh Quảng Nam) làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý và phục hồi, Viện Hải dương học.

[3] Chu Mạnh Trinh, Hứa Chiến Thắng (2012), Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm – Một mô hình thành công về quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái, dựa và cộng đồng, BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam.

[4] Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Đình Sơn (2013), Xây dựng Khu Bảo vệ Hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải, Núi Thành, Quảng Nam, Dự án: Bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái rạn san hô, góp phần bảo vệ môi trường biển và phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, Mã số: (VN/SBP/OP4/CORE/08/007).

Chu Mạnh Trinh - Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

 

Thành công và thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng tại Khu Dư trữ sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (Kinh nghiệm điển hình từ dự án dừa nước Cẩm Thanh, cua đá Cù Lao Chàm và quản lý rác thải Hội An)

PDF.InEmail

Thứ sáu, 11 Tháng 8 2017 14:10 Số truy cập:217

Theo dòng thời gian, Hội An đã từng và đang là nơi hội ngộ của du khách từ Tây sang Đông của cả hai miền Bắc và Nam bán cầu đến giao lưu, buôn bán, làm ăn, sinh sống, viếng thăm. Theo lớp không gian, Hội An cũng đã từng và đang là nơi gặp nhau của các nguồn tài nguyên sinh vật từ thượng nguồn đến hạ lưu, từ biển khơi đến lục địa và theo dọc vùng bờ đến trú đông, kết bạn, sinh sống, hoặc duy trì nòi giống. Con người và thiên nhiên đã từng và dường như đang “hội ngộ” tại Hội An – một vùng cửa sông và ven bờ trù phú của dòng sông Thu Bồn, làm nên sự đa dạng và độc đáo của một Di sản Văn hóa Thế giới, và một Khu Dự trữ Sinh quyển cho mai sau. Trong những năm qua, Hội An đã và đang khai thác thế mạnh này và kết quả Hội An cũng đã và đang mạnh và giàu lên từng ngày, làm rạng rỡ một đô thị cổ xinh đẹp, quyến rũ và tiếng vang khắp thế giới. Tuy nhiên, để một Hội An phát triển bền vững, Hội An cần phải bảo tồn và phát triển sự “hội ngộ” ấy, hội ngộ của con người và hội ngộ của thiên nhiên. Bài trình bày thảo luận về thành công lan toả, thách thức trong công tác bảo tồn & phát triển dựa vào cộng đồng ở Khu Dự trự Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An thông qua các điển hình từ dự án Dừa nước Cẩm Thanh, Cua Đá Cù Lao Chàm và Quản lý Rác thải Hội An.

Đọc thêm...

 
 

Một số kết quả, hạn chế và định hướng trong công tác quản lý bảo tồn biển tại Việt Nam

PDF.InEmail

Thứ năm, 20 Tháng 7 2017 09:28 Số truy cập:396

I. Một số kết quả đạt được của Hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam

1. Hệ thống hệ thống khu bảo tồn biển đang được hình thành

- Đến nay, 12 khu bảo tồn biển đã được thành lập và đưa vào hoạt động: Khu vịnh Nha Trang/Khánh Hòa (2001); Khu BTB Cù Lao Chàm/Quảng Nam (2004); Khu BTB Phú Quốc/Kiên Giang (2007); Khu BTB Cồn Cỏ/Quảng Trị (2009); Khu BTB Hòn Cau/Bình Thuận (2010); Khu BTB Bạch Long Vĩ/Hải Phòng (2014); Khu BTB Lý Sơn/Quảng Ngãi (2015)

- Có 04 khu bảo tồn biển đã quy hoạch chi tiết đang hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập: Khu bảo tồn biển Hòn Mê; Khu bảo tồn biển Nam Yết; Khu bảo tồn biển Phú Quý; Khu bảo tồn biển Hải Vân - Sơn Chà.

Đọc thêm...

 
 

Bảo tồn và phát triển rừng dừa (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam

PDF.InEmail

Thứ năm, 15 Tháng 6 2017 15:57 Số truy cập:689

Nằm cuối dòng sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam, thành phố Hội An được thừa hưởng một sự đa dạng các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ. Các bãi sậy, cồn cát, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, quần cư rong biển, rừng tự nhiên trên đảo, cảnh quan trên cạn và dưới nước đã và đang mang lại cho Hội An một sự giàu có từ các dịch vụ sinh thái, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là du lịch. Rừng dừa “Bảy Mẫu” (Nypa fruticans Wurmb) Cẩm Thanh với diện tích khoảng 84 ha là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản của nhiều loài động vật có giá trị kinh tế cao. Đa dạng sinh học nơi đây đã và đang mang lại sự trù phú cho người dân, tuy nhiên, do ảnh hưởng của việc khai thác không lợp lý, nguồn lợi đang có xu hướng suy giảm và sinh kế của dân khó khăn dần. Báo cáo đã ghi lại nỗ lực của cộng đồng Cẩm Thanh trong công tác bảo tồn và phát triển rừng dừa nước này, đồng thời nhiều bài học kinh nghiệm cũng được đúc kết và phân tích.

Đọc thêm...

 
 

Trai tai tượng (tridacna) trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Cần được bảo vệ và phục hồi khẩn cấp!

PDF.InEmail

Thứ tư, 07 Tháng 6 2017 16:15 Số truy cập:722

Thông tin chung

Trai tai tượng (tridacna) là loài động vật thân mềm, hai mảnh vỏ, có giá trị cao ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chúng được sử dụng rộng rãi trong nuôi cảnh và chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do có kích thước lớn, màu sắc khoang vỏ đa dạng, sặc sỡ. Về sinh học, Trai tai tượng có nguồn gen quý hiếm, giữ vai trò quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái rạn san hô.

Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy, Trai tai tượng chỉ phân bố trên các rạn san hô ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương [5]. Chúng có mối quan hệ mật thiết với quần xã và các điều kiện sinh thái trong hệ sinh thái rạn san hô. Những thay đổi của hệ sinh thái rạn san hô sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các loài Trai tai tượng [3], [4].

Ở Việt Nam, Trai tai tượng được tìm thấy tại 8 đảo: Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Hòn Cau, Hòn Mun, Nam Yết, Lý Sơn và Cù Lao Chàm. Ngoại trừ loài Trai tai tượng vàng nghệ (Tridacna crocea) còn khá phong phú ở Vườn quốc gia Côn Đảo, các đảo còn lại nguồn lợi này còn khá thấp [1].

 

Trong nhiều năm gần đây, nguồn lợi Trai tai tượng đang bị giảm sút nhanh chóng, một số loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do khai thác quá mức và thiếu hợp lý [1]. Hậu quả của việc này là nhiều loài đã được đưa vào Danh lục đỏ Việt Nam như loài Trai tai tượng khổng lồ (Tridacna gigas), Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa), Trai tai tượng lớn (Tridacna maxima),...vv. Đặc biệt 02 loài trước đây có thông tin phân bố ở vùng biển Việt Nam là Trai tai tượng khổng lồ và Trai tai nghé (Hippopus hippopus) không còn phát hiện trong các nghiên cứu gần đây [1].

Đọc thêm...

 
 

Trang 1 trong tổng số 7

..