Nghiên cứu phát triển

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẦN XÃ CÁ BỐNG Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN, THUỘC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI CÙ LAO CHÀM - HỘI AN

PDF.InEmail

Thứ tư, 24 Tháng 7 2019 09:56 Số truy cập:386

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn thuộc địa phận thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một phần của Khu dự trữ sinh quyển thế giới (gọi tắt là KSQ) Cù Lao Chàm - Hội An, là nơi có hệ sinh thái phong phú từ hạ nguồn đến vùng cửa sông Cửa Đại. Các tư liệu nghiên cứu gần đây cho thấy khu vực này có sự hiện diện của một số loại sinh cư(habitats) điển hình quan trọng (rong biển, thảm cỏ biển, rừng dừa nước và vùng đáy mềm), là nơi tập trung của nhiều nhóm đối tượng nguồn lợi thủy sản có giá trị, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội địa phương thông qua việc duy trì sinh kế và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng [1], [2], trong đó nguồn lợi cá bống đóng vai trò khá quan trọng cả về sản lượng lẫn thu nhập.

Tuy nhiên, theo thông tin tham vấn cộng đồng năm 2015 trong khuôn khổ của Dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An” cho thấy sản lượng khai thác nguồn lợi này nói riêng và nguồn lợi thủy sản nói chung ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đang có xu hướng giảm dần do áp lực phát triển kinh tế xã hội gây nên các tác động bất lợi như khai thác hủy diệt và quá mức, diện tích sinh cư bị thu hẹp, chất lượng môi trường nước giảm,…Do đó, kết quả nghiên cứu về các đặc điểm của quần xã cá bống như phân bố, mùa vụ sinh sản,…tại khu vực này rất quan trọng,làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và khai thác tài nguyên một cách bền vững trong KSQ Cù Lao Chàm - Hội An.

Thành phần loài và phân bố [4]

Kết quả phân tích các mẫu cá bống thu được qua 2 đợt khảo sát (tháng 12/2015 và tháng 6/2016) tại 03 khu vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông (gradient) độ mặn tầng đáy, từ rất thấp (< 0,2%o; khu vực phường Thanh Hà) đến trung bình (< 13,3%o; khu vực phường Cẩm Nam) và cao (>18,3%o; khu vực xã Cẩm Thanh) (Lê Thị Vinh và cs., 2016) đã xác định được 14 loài thuộc 8 giống 2 họ cá bống Eleotridae và Gobiidae phân bố dọc vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Bảng 1) (Phụ lục).

cabong1

Hình 1. Vị trí các điểm thu mẫu cá

Bảng 1.Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

K: mùa khô; M: mùa mưa

cabong3

  *: Loài bổ sung từ nghiên cứu này.

So với những nghiên cứu trước đây của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010), Nguyen Thanh Nam (2012) và Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015), kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 4 loài cho khu vực này, trong đó họ cá bống đen có 1 loài (Oxyeleotris urophthalmus) và họ cá bống trắng có 3 loài (Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus và Oligolepis acutipennis).

Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt về phân bố thành phần loài giữa các khu vực theo mùa trong đó các loài Eleotris fusca, E. melanosoma, Acentrogobius nebulosus và Glossogobius aureus chỉ xuất hiện ở khu vực Cẩm Thanh vào mùa mưa. Đây là nhóm các loài thường hay sống ở vùng cửa sông ngập mặn [4]; loài Exyrias puntang chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa mưa; loài Oligolepis acutipennis chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa khô.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư [4]

Tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn, vào cả 2 mùa mưa và khô, giá trị độ pH và độ muối tăng dần từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh. Vào mùa mưa, tại khu vực Thanh Hà và Cẩm Nam hoàn toàn là nước ngọt, riêng tại khu vực Cẩm Thanh nước tầng đáy có độ mặn từ 17,3 – 19,6%o và pH từ 6,24 – 7,98..Vào mùa khô, hầu hết các nơi tại vùng này đều bị nhiễm mặn, độ mặn và pH tăng dần từ đầu vùng hạ lưu (Thanh Hà) tới vùng cửa sông (Cẩm Thanh), độ mặn ở tầng đáy tăng từ 0,25 – 19,3%o, pH tầng đáy tăng từ 7,27 – 7,91. Kết quả đo các yếu tố môi trường cho thấy tại khu vực nghiên cứu có sự thay đổi mạnh về pH và độ mặn theo 2 mùa giữa 3 khu vực thu mẫu. Do đó, 2 yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố thành phần loài giữa 3 khu vực thu mẫu.

Bảng 2. Ma trận phân tích CCA.

cabong4

Theo kết quả phân tích mối tương quan (CCA) giữa thành phần loài và độ phong phú của quần xã cá bống với 8 yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư (pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, bùn-cát và cát-bùn) cho thấy rằng sự phân bố của cá bống có mối quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối của các yếu tố nói trên (p = 0,006 < 0,05), trong đó các yếu tố đóng vai trò chi phối gồm pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, bùn-cát và cát-bùn (Hình 2).

cabong5

Hình 2. Mối tương quan giữa thành phần loài cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: pH, nhiệt độ (t), oxy hòa tan (DO), độ mặn (S), rong-cỏ nước ngọt (RC), bùn-cát (BC), cát-bùn (CB), dừa nước-cỏ biển (DC). Butbut: Butis butis, Exypun: Exyrias puntang, Glogiu: Glossogobius giuris, Glofap: Glossogobius fasciato-punctatus, Aceneb: Acentrogobius nebulosus, Oxymar: Oxyeleotris marmorata, Gloaur: Glossogobius aureus, Elemel: Eleotris melanosoma, Oxyten: Oxyeleotris tentacularis, Elefus: Eleotris fusca, Eleoxy: Eleotris oxycephala, Acecan: Acentrogobius caninus, Oxyuro: Oxyeleotris urophthalmus, Oliacu: Oligolepis acutipennis.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường và sinh cư được phân thành 4 nhóm sau:

- Nhóm các loài cá bống ít chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: Eleotris fusca, E. melanosoma, Oxyeleotris marmorata, Acentrogobius nebulosus, Glossogobius aureus, G. fasciato-punctatus và Oxyurichthys tentacularis.

- Nhóm các loài cá bống chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố là bùn-cát (BC) và oxy hòa tan (DO) gồm: Glossogobius giuris, Exyrias puntang và Butis butis. Tuy nhiên, các loài này chịu sự chi phối mạnh của yếu tố bùn-cát (BC) hơn DO, trong đó loài G. giuris chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất bởi yếu tố bùn-cát (BC).

- Nhóm các loài cá bống chịu sự chi phối của yếu tố cát-bùn (CB) gồm: Acentrogobius caninus, Oxyeleotris urophthalmus và Oligolepis acutipennis. Trong đó, loài A.caninus chịu sự chi phối của cát-bùn (CB) hơn hai loài còn lại.

- Nhóm chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố gồm pH, nhiệt độ (t), độ mặn (S)và rong-cỏ nước ngọt (RC): ở nhóm này chỉ có một loài duy nhất chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố môi trường trên đó là Eleotris oxycephala.

Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm yếu tố lại cho thấy chỉ có 4 yếu tố có giá trị Eigenvalue (%) cao và p < 0,05 (gồm pH, DO, độ mặn và rong-cỏ nước ngọt) đóng vai trò quan trọng nhất chi phối sự phân bố của quần xã cá bống trong khu vực nghiên cứu (Bảng 2). Riêng giá trị eigen (Eigenvalue) của yếu tố nhiệt độ tuy cao thứ nhì (22,6%) nhưng giá trị p > 0,05 nên không ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố thành phần loài cá bống. Có thể tại khu vực nghiên cứu, nhiệt độ môi trường nước không có sự biến động nhiều giữa các khu vực và giữa 2 mùa nên các loài cá bống ít chịu sự chi phối của yếu tố nhiệt độ.

Đặc điểm sinh sản của loài cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) [3]

Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát ở giai đoạn IV đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 (chiếm 12,5%), trong các tháng 1, 2, 9 và 11 không thấy xuất hiện buồng trứng ở giai đoạn IV hoặc xuất hiện với tỉ lệ rất thấp (1,11%)(Hình3).

Trong quá trình thu mẫu và phân tích không thấy buồng trứng ở giai đoạn V, có thể đây là giai đoạn cá tham gia sinh sản nên rất khó phát hiện ở giai đoạn này.

cabong6

Hình 3. Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn

Kết quả thu mẫu và phân tích cho thấy trong tháng 3 và tháng 10 phát hiện được mẫu tinh sào ở giai đoạn IV nhưng chiếm tỷ lệ rất thấp 1,39% và 2,22%(Hình4).

cabong7

Hình 4. Tỷ lệ các GĐTT của tinh sào cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Như vậy, qua kết quả phân tích có thể dự đoán mùa vụ sinh sản tập trung của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm. So sánh kết quả phân tích mẫu tuyến sinh dục từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thành thục sinh dục giữa 3 khu vực trong cùng thời điểm từ tháng 1 đến tháng 8. Tuy nhiên, kết quả thu mẫu từ tháng 9 đến tháng 11 cho thấy tỷ lệ buồng trứng ở giai đoạn IV tại khu vực Cẩm Thanh cao hơn gấp 2 đến 3 lần hai khu vực còn lại (Cẩm Nam và Thanh Hà), đặc biệt trong tháng 9 và tháng 11 buồng trứng giai đoạn IV chỉ phát hiện ở Cẩm Thanh (chiếm 3,45%) (Hình 5 và Hình 6)

Đối chiếu với các thông số môi trường đo đạc tại 3 khu vực cho thấy vào mùa khô nước cả 3 khu vực đều bị nhiễm mặn, nhưng vào mùa mưa chỉ có khu vực Cẩm Thanh là nước bị nhiễm mặn. Như vậy, sự thành thục sinh dục của cá bống cát thường tập trung ở khu vực có độ mặn cao hơn.

cabong8

Hình 5. Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát giai đoạn IV tại 3 khu vực thu mẫu.

cabong9

Hình 6. Tỷ lệ buồng tinh cá bống cát giai đoạn III & IV tại 3 khu vực thu mẫu.

So sánh với kết quả nghiên cứu về sinh sản của cá bống cát của Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định (2013) thực hiện ở Cần Thơ cho thấy sự khác biệt về mùa vụ sinh sản giữa hai khu vực. Ở Cần Thơ, cá bống cát thành thục sinh dục và tham gia sinh sản từ tháng 9 đến tháng 10 và giảm dần ở các tháng tiếp theo; trong khi ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn là từ tháng 3 đến tháng 8 và giảm dần ở các tháng tiếp theo.

Về phương pháp thực hiện, ở nghiên cứu tại Cần Thơ thời gian thực hiện nghiên cứu chỉ kéo dài từ tháng 9/2011 đến tháng 2/2012, như vậy nhóm tác giả đã chưa nghiên cứu được đặc điểm sinh học của cá trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm. Qua 11 tháng thu mẫu phân tích, kết quả nghiên cứu cho thấy cá bống cát có giá trị GSI cao nhất vào tháng 3, tiếp theo là tháng 8 và giảm dần vào các tháng tiếp theo, thấp nhất vào tháng 11. Trong quá trình thu mẫu, ở các tháng 11 đến tháng 2 hầu như chỉ thu được cá bống ở giai đoạn I và II, rất hiếm khi bắt gặp giai đoạn III và gần như không có giai đoạn IV, nên hệ số GSI ở các tháng này rất thấp. Trong tháng 3, các mẫu cá bống ở giai đoạn III và IV thu được chiếm tỷ lệ rất cao (13,9% và 12,5%) nên có hệ số GSI cao nhất (Hình7). Thông tin tham vấn từ ngư dân khai thác tại khu vực nghiên cứu thì cá bống cát mang trứng thườngxuất hiện nhiều vào khoảng tháng 3 đến tháng 7. Do đó có thể nhận định mùa vụ sinh sản của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm.

cabong10

Hình 7. Hệ số thành thục sinh dục GSI (%) của cá bống cát.

Sức sinh sản tuyệt đối của cá bống cát dao động từ 15.555 đến 76.861 trứng/cá thể, trung bình đạt 32.246± 18.799 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g, trung bình đạt 3.379 ± 877 trứng/g. Dựa vào Hình 8 có thể thấy khối lượng cơ thể cá ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá. Mối tương quan giữa hai đại lượng này được thể hiện bằng phương trình F = 6242W – 23778 với hệ số tương quan R2 = 0,9116. Qua phương trình trên cho thấy rằng khi khối lượng thân cá tăng lên thì sức sinh sản tuyệt đối của cá cũng tăng theo.

cabong11

Hình 8. Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng cơ thể.

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 14 loài cá bống thuộc 8 giống của 2 họ cá bống đen Eleotridae (6 loài) và họ cá bống trắng Gobiidae (8 loài), trong đó có 4 loài (Oxyeleotris urophthalmus, Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus và Oligolepis acutipennis) được bổ sung cho khu hệ cá ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Có sự khác biệt về tính chất phân bố thành phần loài cá bống theo không gian và thời gian, trong đó khu vực nước có độ mặn cao (Cẩm Thanh) có số lượng loài cao hơn so với khu vực có độ mặn trung bình (Cẩm Nam) và độ mặn thấp (Thanh Hà); và mùa mưa cao hơn so với mùa khô.

Sự phân bố của quần xã cá bống có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường và sinh cư, trong đó pH, oxy hòa tan, độ mặn và độ phủ rong-cỏ nước ngọt là những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất.

Mùa vụ sinh sản của cá bống cát tập trung từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm với sức sinh sản tuyệt đối dao động trong khoảng 15.555 - 76.861 trứng/cá thể (trung bình: 32.246 ± 18.799 trứng/cá thể) và sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g trọng lượng cá (trung bình: 3.379 ± 877 trứng/g). Hệ số thành thục sinh dục của cá bống cát đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 11.

Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB Cù Lao Chàm

Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Hữu Đại, Donald Macintosh, 2008. Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước (chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn (Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ, phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 8: 51-66.

2. Phạm Viết Tích, 2009. Khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Quảng Nam. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh lưu trữ tại Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam. 160 trang.

3. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2017. Đặc điểm sinh sản cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 17, Số 4A.

4. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2018. Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 161-165.

5. Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo, Bùi Thị Ngọc Nở, Võ Văn Quang, 2015. Kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 15(1): 55-60.

6. Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định, 2013. Một số đặc điểm sinh sản của cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học trường đại học Cần Thơ, Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ sinh học 27, tr.161-168.

7.Lê Thị Vinh, Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Thu, Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng, Võ Hải Thi, Phạm Hồng Ngọc, Lê Hồng Phú, 2016. Chất lượng môi trường nước tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm-Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tuyển tập Nghiên cứu Biển, 22: 29-37.5.

8. Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, 2010. Thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia tỉnh Quảng Nam. Tạp chí sinh học, 32 (2): 12-20.

9. Nguyen Thanh Nam, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Xuan Huan, 2012. Composition of fish species at Cua Dai estuary, Vu Gia – Thu Bon river system, Quang Nam province. VNU Journal of Science, Natural Sciences and Technology, 28(2S): 25-33.

Phụ lục 

cabong12cabong13

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn thuộc địa phận thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một phần của Khu dự trữ sinh quyển thế giới (gọi tắt là KSQ) Cù Lao Chàm - Hội An, là nơi có hệ sinh thái phong phú từ hạ nguồn đến vùng cửa sông Cửa Đại. Các tư liệu nghiên cứu gần đây cho thấy khu vực này có sự hiện diện của một số loại sinh cư(habitats) điển hình quan trọng (rong biển, thảm cỏ biển, rừng dừa nước và vùng đáy mềm), là nơi tập trung của nhiều nhóm đối tượng nguồn lợi thủy sản có giá trị, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội địa phương thông qua việc duy trì sinh kế và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng [1], [2], trong đó nguồn lợi cá bống đóng vai trò khá quan trọng cả về sản lượng lẫn thu nhập.

Tuy nhiên, theo thông tin tham vấn cộng đồng năm 2015 trong khuôn khổ của Dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An” cho thấy sản lượng khai thác nguồn lợi này nói riêng và nguồn lợi thủy sản nói chung ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đang có xu hướng giảm dần do áp lực phát triển kinh tế xã hội gây nên các tác động bất lợi như khai thác hủy diệt và quá mức, diện tích sinh cư bị thu hẹp, chất lượng môi trường nước giảm,…Do đó, kết quả nghiên cứu về các đặc điểm của quần xã cá bống như phân bố, mùa vụ sinh sản,…tại khu vực này rất quan trọng,làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và khai thác tài nguyên một cách bền vững trong KSQ Cù Lao Chàm - Hội An.

Thành phần loài và phân bố [4]

Kết quả phân tích các mẫu cá bống thu được qua 2 đợt khảo sát (tháng 12/2015 và tháng 6/2016) tại 03 khu vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông (gradient) độ mặn tầng đáy, từ rất thấp (< 0,2%o; khu vực phường Thanh Hà) đến trung bình (< 13,3%o; khu vực phường Cẩm Nam) và cao (>18,3%o; khu vực xã Cẩm Thanh) (Lê Thị Vinh và cs., 2016) đã xác định được 14 loài thuộc 8 giống 2 họ cá bống Eleotridae và Gobiidae phân bố dọc vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Bảng 1) (Phụ lục).

 

Hình 1. Vị trí các điểm thu mẫu cá

Bảng 1.Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

K: mùa khô; M: mùa mưa

TT

Tên loài

Tên thường gọi

Tên địa phương

Thanh Hà

Cẩm Nam

Cẩm Thanh

K

M

K

M

K

M

 

Họ Eleotridae

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Butis butis (Hamilton, 1822)

Bống cấu

Bống cầu

 

x

 

x

 

x

2

Eleotris fusca (Forster, 1801)

Bống đen

Bống đen rong

 

 

 

 

 

x

3

Eleotris melanosoma Bleeker, 1852

Bống đen mêla

Bống mủ

 

 

 

 

 

x

4

Eleotris oxycephala Temminck & Schlegel, 1845

Bống đen oxi

Bống mú đen

x

x

x

x

x

 

5

Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)

Bống tượng

Bống tượng

 

x

 

x

x

x

6

Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)* 

Bống dừa

Bống dừa

x

 

x

 

x

x

 

Họ Gobiidae

 

 

 

 

 

 

 

 

7

Acentrogobius caninus (Cuvier & Valenciennes, 1837) 

Bống tro, bống chấm

Bống hoa

x

x

 

 

 

x

8

Acentrogobius nebulosus (Forsskål, 1775)

 

Bống say

 

 

 

 

 

x

9

Exyrias puntang (Bleeker, 1851) * 

 

Bống mè

 

x

 

 

 

 

10

Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975

Bống cát

Bống cát

 

 

 

 

 

x

11

Glossogobius fasciato-punctatus (Richardson, 1836)*

Bống chấm gáy

Bống găm hồ

 

x

 

 

 

x

12

Glossogobius giuris (Hamilton, 1822)

Bống cát

Bống găm, bống nhọn, bống cát

x

x

x

x

x

x

13

Oxyurichthys tentacularis(Valenciennes, 1837)

Bống vảy nhỏ

Bống thệ, bống thệ quát

 

x

x

x

 

x

14

Oligolepis acutipennis (Valenciennes, 1837)*

Bống vân ngang

 

x

 

 

 

 

 

 

TỔNG SỐ

 

 

5

8

4

5

4

11

*: Loài bổ sung từ nghiên cứu này.

So với những nghiên cứu trước đây của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010), Nguyen Thanh Nam (2012) và Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015), kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 4 loài cho khu vực này, trong đó họ cá bống đen có 1 loài (Oxyeleotris urophthalmus) và họ cá bống trắng có 3 loài (Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus Oligolepis acutipennis).

Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt về phân bố thành phần loài giữa các khu vực theo mùa trong đó các loài Eleotris fusca, E. melanosoma, Acentrogobius nebulosus Glossogobius aureus chỉ xuất hiện ở khu vực Cẩm Thanh vào mùa mưa. Đây là nhóm các loài thường hay sống ở vùng cửa sông ngập mặn [4]; loài Exyrias puntang chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa mưa; loài Oligolepis acutipennis chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa khô.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư [4]

Tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn, vào cả 2 mùa mưa và khô, giá trị độ pH và độ muối tăng dần từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh. Vào mùa mưa, tại khu vực Thanh Hà và Cẩm Nam hoàn toàn là nước ngọt, riêng tại khu vực Cẩm Thanh nước tầng đáy có độ mặn từ 17,3 – 19,6%o và pH từ 6,24 – 7,98..Vào mùa khô, hầu hết các nơi tại vùng này đều bị nhiễm mặn, độ mặn và pH tăng dần từ đầu vùng hạ lưu (Thanh Hà) tới vùng cửa sông (Cẩm Thanh), độ mặn ở tầng đáy tăng từ 0,25 – 19,3%o, pH tầng đáy tăng từ 7,27 – 7,91. Kết quả đo các yếu tố môi trường cho thấy tại khu vực nghiên cứu có sự thay đổi mạnh về pH và độ mặn theo 2 mùa giữa 3 khu vực thu mẫu. Do đó, 2 yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố thành phần loài giữa 3 khu vực thu mẫu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảng 2. Ma trận phân tích CCA.

Yếu tố môi trường

Eigenval

%

p

pH

0.3817

42.43

0.011

Nhiệt độ

0.2033

22.6

0.199

DO

0.1596

17.74

0.026

Độ mặn

0.09453

10.51

0.019

Rong-cỏ nước ngọt

0.05532

6.149

0.016

Dừa nước-cỏ biển

9.89E-18

1.10E-15

0.709

Bùn-cát

0.005138

0.5711

0.918

Cát-bùn

9.26E-08

1.03E-05

0.902

 

Theo kết quả phân tích mối tương quan (CCA) giữa thành phần loài và độ phong phú của quần xã cá bống với 8 yếu tố môi trường cơ bản và sinh cư (pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, bùn-cát và cát-bùn) cho thấy rằng sự phân bố của cá bống có mối quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối của các yếu tố nói trên (p = 0,006 < 0,05), trong đó các yếu tố đóng vai trò chi phối gồm pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, bùn-cát và cát-bùn (Hình 1).

 

Hình 1. Mối tương quan giữa thành phần loài cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: pH, nhiệt độ (t), oxy hòa tan (DO), độ mặn (S), rong-cỏ nước ngọt (RC), bùn-cát (BC), cát-bùn (CB), dừa nước-cỏ biển (DC). Butbut: Butis butis, Exypun: Exyrias puntang, Glogiu: Glossogobius giuris, Glofap: Glossogobius fasciato-punctatus, Aceneb: Acentrogobius nebulosus, Oxymar: Oxyeleotris marmorata, Gloaur: Glossogobius aureus, Elemel: Eleotris melanosoma, Oxyten: Oxyeleotris tentacularis, Elefus: Eleotris fusca,  Eleoxy: Eleotris oxycephala, Acecan: Acentrogobius caninus, Oxyuro: Oxyeleotris urophthalmus,  Oliacu: Oligolepis acutipennis.

Mối quan hệ giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường và sinh cư được phân thành 4 nhóm sau:

-            Nhóm các loài cá bống ít chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và sinh cư gồm: Eleotris fusca, E. melanosoma, Oxyeleotris marmorata, Acentrogobius nebulosus, Glossogobius aureus, G. fasciato-punctatus Oxyurichthys tentacularis.

-            Nhóm các loài cá bống chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố là bùn-cát (BC) và oxy hòa tan (DO) gồm: Glossogobius giuris, Exyrias puntang và Butis butis. Tuy nhiên, các loài này chịu sự chi phối mạnh của yếu tố bùn-cát (BC) hơn DO, trong đó loài G. giuris chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất bởi yếu tố bùn-cát (BC).

-            Nhóm các loài cá bống chịu sự chi phối của yếu tố cát-bùn (CB) gồm: Acentrogobius caninus, Oxyeleotris urophthalmus và Oligolepis acutipennis. Trong đó, loài A.caninus chịu sự chi phối của cát-bùn (CB) hơn hai loài còn lại.

-            Nhóm chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố gồm pH, nhiệt độ (t), độ mặn (S)và rong-cỏ nước ngọt (RC): ở nhóm này chỉ có một loài duy nhất chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố môi trường trên đó là Eleotris oxycephala.

Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm yếu tố lại cho thấy chỉ có 4 yếu tố có giá trị Eigenvalue (%) cao và p < 0,05 (gồm pH, DO, độ mặn và rong-cỏ nước ngọt) đóng vai trò quan trọng nhất chi phối sự phân bố của quần xã cá bống trong khu vực nghiên cứu  (Bảng 2). Riêng giá trị eigen (Eigenvalue) của yếu tố nhiệt độ tuy cao thứ nhì (22,6%) nhưng giá trị p > 0,05 nên không ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố thành phần loài cá bống. Có thể tại khu vực nghiên cứu, nhiệt độ môi trường nước không có sự biến động nhiều giữa các khu vực và giữa 2 mùa nên các loài cá bống ít chịu sự chi phối của yếu tố nhiệt độ.

Đặc điểm sinh sản của loài cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) [3]

Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát ở giai đoạn IV đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 (chiếm 12,5%), trong các tháng 1, 2, 9 và 11 không thấy xuất hiện buồng trứng ở giai đoạn IV hoặc xuất hiện với tỉ lệ rất thấp (1,11%)(Hình2).

Trong quá trình thu mẫu và phân tích không thấy buồng trứng ở giai đoạn V, có thể đây là giai đoạn cá tham gia sinh sản nên rất khó phát hiện ở giai đoạn này.

 

Hình 2. Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn

Kết quả thu mẫu và phân tích cho thấy trong tháng 3 và tháng 10 phát hiện được mẫu tinh sào ở giai đoạn IV nhưng chiếm tỷ lệ rất thấp 1,39% và 2,22%(Hình3).

 

Hình 3. Tỷ lệ các GĐTT của tinh sào cá bống cát ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Như vậy, qua kết quả phân tích có thể dự đoán mùa vụ sinh sản tập trung của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm.

So sánh kết quả phân tích mẫu tuyến sinh dục từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thành thục sinh dục giữa 3 khu vực trong cùng thời điểm từ tháng 1 đến tháng 8. Tuy nhiên, kết quả thu mẫu từ tháng 9 đến tháng 11 cho thấy tỷ lệ buồng trứng ở giai đoạn IV tại khu vực Cẩm Thanh cao hơn gấp 2 đến 3 lần hai khu vực còn lại (Cẩm Nam và Thanh Hà), đặc biệt trong tháng 9 và tháng 11 buồng trứng giai đoạn IV chỉ phát hiện ở Cẩm Thanh (chiếm 3,45%) (Hình 4 và Hình 5)

Đối chiếu với các thông số môi trường đo đạc tại 3 khu vực cho thấy vào mùa khô nước cả 3 khu vực đều bị nhiễm mặn, nhưng vào mùa mưa chỉ có khu vực Cẩm Thanh là nước bị nhiễm mặn. Như vậy, sự thành thục sinh dục của cá bống cát thường tập trung ở khu vực có độ mặn cao hơn.

 

Hình 4. Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát giai đoạn IV tại 3 khu vực thu mẫu.

 

Hình 5. Tỷ lệ buồng tinh cá bống cát giai đoạn III & IV tại 3 khu vực thu mẫu.

So sánh với kết quả nghiên cứu về sinh sản của cá bống cát của Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định (2013) thực hiện ở Cần Thơ cho thấy sự khác biệt về mùa vụ sinh sản giữa hai khu vực. Ở Cần Thơ, cá bống cát thành thục sinh dục và tham gia sinh sản từ tháng 9 đến tháng 10 và giảm dần ở các tháng tiếp theo; trong khi ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn là từ tháng 3 đến tháng 8 và giảm dần ở các tháng tiếp theo. Về phương pháp thực hiện, ở nghiên cứu tại Cần Thơ thời gian thực hiện nghiên cứu chỉ kéo dài từ tháng 9/2011 đến tháng 2/2012, như vậy nhóm tác giả đã chưa nghiên cứu được đặc điểm sinh học của cá trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm.

Qua 11 tháng thu mẫu phân tích, kết quả nghiên cứu cho thấy cá bống cát có giá trị GSI cao nhất vào tháng 3, tiếp theo là tháng 8 và giảm dần vào các tháng tiếp theo, thấp nhất vào tháng 11. Trong quá trình thu mẫu, ở các tháng 11 đến tháng 2 hầu như chỉ thu được cá bống ở giai đoạn I và II, rất hiếm khi bắt gặp giai đoạn III và gần như không có giai đoạn IV, nên hệ số GSI ở các tháng này rất thấp. Trong tháng 3, các mẫu cá bống ở giai đoạn III và IV thu được chiếm tỷ lệ rất cao (13,9% và 12,5%) nên có hệ số GSI cao nhất (Hình6). Thông tin tham vấn từ ngư dân khai thác tại khu vực nghiên cứu thì cá bống cát mang trứng thườngxuất hiện nhiều vào khoảng tháng 3 đến tháng 7. Do đó có thể nhận định mùa vụ sinh sản của cá bống cát diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm.

 

Hình6. Hệ số thành thục sinh dục GSI (%) của cá bống cát.

Sức sinh sản tuyệt đối của cá bống cát dao động từ 15.555 đến 76.861 trứng/cá thể, trung bình đạt 32.246± 18.799 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g, trung bình đạt 3.379 ± 877 trứng/g. Dựa vào Hình7 có thể thấy khối lượng cơ thể cá ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá. Mối tương quan giữa hai đại lượng này được thể hiện bằng phương trình F = 6242W – 23778 với hệ số tương quan R2 = 0,9116. Qua phương trình trên cho thấy rằng khi khối lượng thân cá tăng lên thì sức sinh sản tuyệt đối của cá cũng tăng theo.

 

Hình7. Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng cơ thể.

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 14 loài cá bống thuộc 8 giống của 2 họ cá bống đen Eleotridae (6 loài) và họ cá bống trắng Gobiidae (8 loài), trong đó có 4 loài (Oxyeleotris urophthalmus, Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus Oligolepis acutipennis) được bổ sung cho khu hệ cá ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.

Có sự khác biệt về tính chất phân bố thành phần loài cá bống theo không gian và thời gian, trong đó khu vực nước có độ mặn cao (Cẩm Thanh) có số lượng loài cao hơn so với khu vực có độ mặn trung bình (Cẩm Nam) và độ mặn thấp (Thanh Hà); và mùa mưa cao hơn so với mùa khô.

Sự phân bố của quần xã cá bống có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường và sinh cư, trong đó pH, oxy hòa tan, độ mặn và độ phủ rong-cỏ nước ngọt là những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất.

Mùa vụ sinh sản của cá bống cát tập trung từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm với sức sinh sản tuyệt đối dao động trong khoảng 15.555 - 76.861 trứng/cá thể (trung bình: 32.246 ± 18.799 trứng/cá thể) và sức sinh sản tương đối dao động trong khoảng 2.150 - 5.044 trứng/g trọng lượng cá (trung bình: 3.379 ± 877 trứng/g). Hệ số thành thục sinh dục của cá bống cát đạt giá trị cao từ tháng 3 đến tháng 8, cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 11.

Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB Cù Lao Chàm

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Hữu Đại, Donald Macintosh, 2008. Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước (chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn (Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ, phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 8: 51-66.

2. Nguyễn Viết Tích, 2009. Khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Quảng Nam. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh lưu trữ tại Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam. 160 trang.

3. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2017. Đặc điểm sinh sản cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 17, Số 4A.

4. Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long, 2018. Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 161-165.

5. Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo, Bùi Thị Ngọc Nở, Võ Văn Quang, 2015. Kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 15(1): 55-60.

6. Phạm Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định, 2013. Một số đặc điểm sinh sản của cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học trường đại học Cần Thơ, Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ sinh học 27, tr.161-168.

7.Lê Thị Vinh, Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Thu, Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng, Võ Hải Thi, Phạm Hồng Ngọc, Lê Hồng Phú, 2016. Chất lượng môi trường nước tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm-Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tuyển tập Nghiên cứu Biển, 22: 29-37.5.

8. Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, 2010. Thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia tỉnh Quảng Nam. Tạp chí sinh học, 32 (2): 12-20.

9. Nguyen Thanh Nam, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Xuan Huan, 2012. Composition of fish species at Cua Dai estuary, Vu Gia – Thu Bon river system, Quang Nam province. VNU Journal of Science, Natural Sciences and Technology, 28(2S): 25-33.

Phụ lục

 

Butis butis

 

Eleotris fusca

 

 

Eleotris melanosoma

 

Eleotris oxycephala

 

Oxyeleotris marmorata

 

Oxyeleotris urophthalmus

 

Acentrogobius caninus

 

Acentrogobius nebulosus

 

Exyrias puntang

 

 

Glossogobius aureus

 

Glossogobius fasciato-punctatus

 

Glossogobius giuris

 

Oxyurichthys tentacularis

 

Oligolepis acutipennis

 

 

 

 

 

Khu dự trữ sinh quyển thế giới CLC-Hội An 10 năm bảo tồn phát triển

PDF.InEmail

Thứ hai, 08 Tháng 7 2019 09:44 Số truy cập:563

Ngày 26/5/2009, tại đảo Jeju - Hàn Quốc, Ủy ban điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển thế giới (MAB) của UNESCO đã chính thức công nhận Cù Lao Chàm – Hội An trở thành Khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ 8 của Việt Nam, hòa vào mạng lưới 686 Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại 122 quốc gia tính đến năm 2019. Có thể nói, đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực vượt bậc của người dân, chính quyền, các nhà khoa học, lực lượng doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn - là tài sản của địa phương nhưng mang tầm ý nghĩa toàn cầu. Sau 10 năm vận hành với nhiều khó khăn, thách thức từ thiên nhiên và con người, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An không những đáp ứng được các yêu cầu của UNESCO thông qua 7 tiêu chí, thực hiện tốt 3 chức năng của một Khu sinh quyển thế giới mà danh hiệu này còn hỗ trợ đắc lực cho thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam trong việc thu hút du khách thập phương, phát triển sinh kế người dân, góp phần cụ thể hóa mục tiêu xây dựng thành phố Hội An theo định hướng Sinh thái – Văn hóa – Du lịch và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Giá trị nổi trội của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An:Tài sản của địa phương nhưng mang tầm ý nghĩa toàn cầu 

Trải dài từ phố cổ Hội An - vùng hạ lưu sông Thu Bồn, qua hệ thống kênh rạch tự nhiên, các bãi biển đến tận hải đảo,  Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An (KSQ) có đại diện đầy đủ các kiểu hệ hệ sinh thái tự nhiên đặc  trưng vùng ven bờ như: Hệ sinh thái (HST) rạn san hô; HST thảm cỏ biển, HST thảm rong biển, HST rừng ngập mặn  (chủ yếu là rừng dừa nước); HST vùng cửa sông; HST đất ngập nước; HST vùng triều bờ đá; HST bãi biển, HST rừng  thường xanh nhiệt đới...vv. Các HST này được trải dài dọc theo các nhánh sông, vùng ven biển ra đến quần đảo Cù Lao Chàm đã bao bọc lấy Hội An, mang lại cho vùng đất này sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn, tạo ra các dịch vụ sinh thái, là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Những giá trị độc đáo và đặc trưng nhất của KSQ được coi là tài sản của địa phương nhưng mang tầm ý nghĩa toàn cầu đó là: Khu Phố cổ Hội An - Di sản văn hóa (UNESCO công nhận năm 1999); Rừng nguyên sinh trên đảo Cù Lao Chàm (được công nhận rừng đặc dụng từ năm 2018); Rừng dừa nước hạ lưu sông Thu Bồn (được công nhận rừng phòng hộ năm 2018); Các làng quê sinh thái Cẩm Thanh, Cẩm Kim, xã đảo Tân Hiệp; Khu Bảo tồn Biển Cù Lao Chàm (thành lập năm 2003, thuộc hệ thống các KBTB quốc gia); Các làng nghề truyền thống (mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, Tre-dừa Cẩm Thanh, rau Trà Quế, Yến Sào Cù Lao Chàm…vv)…vv. Tất cả đã tạo nên một Hội An với đặc điểm lịch sử và địa lý nhân văn hết sức riêng biệt mà không nơi nào có thể sánh được. Với lịch sử lâu đời, Hội An chính là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa lớn trên thế giới, các học giả cho rằng: “Hội An chính là hội thủy – hội nhân” [10]. Thành phố nhỏ bé bên bờ sông Hoài, trông ra biển khơi với quần đảo Cù Lao Chàm án ngữ cửa ngõ phía Đông, địa danh còn nổi tiếng thời vương quốc Cham-Pa trước cả cảng thị Hội An, đây là điểm dừng chân quan trọng của thương thuyền quốc tế, điểm kết nối giữa “con đường tơ lụa” và “con đường gốm sứ” nổi tiếng trong lịch sử hàng hải thế giới [6]. Có thể nói, Hội An là một biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ của một thường cảng quốc tế đặc trưng của vùng Đông Nam Á và các giá trị ấy được bảo tồn một cách nguyên vẹn, chu đáo cho đến ngày nay.

donbangcongnhanKSQ

Hình 1: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan chuyển trao bằng công nhận KSQ cho tỉnh Quảng Nam và thành phố Hội An

Đặc biệt, nhìn từ lịch sử hình thành cảng thị Hội An sầm uất thế kỷ XV-XIX, trải qua bao nhiêu giai đoạn, chứng kiến bao nhiêu sự thay đổi, thành phố có lúc phát triển phồn thịnh, rực rỡ, có lúc thoái trào, suy vong nhưng một điều bất biến đó là người dân luôn nương tựa vào thiên nhiên để làm ăn sinh sống, định hướng chiến lược của thành phố từ ngàn xưa cho đến bây giờ luôn phát triển dựa trên nền tảng kiến tạo tự nhiên - món quà vô giá thiên nhiên đã ưu ái ban tặng và được các bậc tiền nhân dày công gìn giữ để bây giờ nó là tài sản của địa phương nhưng mang tầm ý nghĩa toàn cầu. Chính từ lẽ đó, KSQ được UNESCO đánh giá là một minh chứng điển hình, rõ nét về sự giao thoa, hòa quyện giữa con người với thiên nhiên, đúng như tôn chỉ của UNESCO thông qua tên gọi Ủy ban Con người và Sinh quyển (Man and Biosphere – MAB) [4].

Những nỗ lực gìn giữ và phát huy giá trị nổi trội của Khu sinh quyển

Với những nỗ lực của địa phương và các bên liên quan từ chính quyền, nhà khoa học, các doanh nghiệp và cộng đồng cư dân, sau 10 năm được UNESCO công nhận, KSQ đã cơ bản hình thành bộ máy, cơ chế quản lý và điều phối các hoạt động theo cách tiếp cận quản lý tổng hợp, đa ngành nghề, đa mục tiêu; tiếp cận hệ sinh thái, lưu vực sông; tiếp cận theo mô hình tư duy hệ thống, qui hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành, kinh tế chất lượng (Mô hình SLIQ) [4]…vv nhằm bảo tồn và phát huy tốt các giá trị đặc trưng nổi trội của KSQ, phục vụ chiến lược phát triển của địa phương và đáp ứng sự kỳ vọng của UNESCO.

mohinhtiepcanKSQ1

Hình 2: Mô hình tiếp cận bảo tồn và phát huy giá trị KSQ [3]

Sau 10 năm, những tài sản quí giá nhất của KSQ đã được bảo tồn một cách tích cực, mang lại lợi ích cụ thể thông qua các mô hình sinh kế bền vững của người dân trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Điều này được thể hiện qua diễn thế phân bố, sức khỏe các HST cả trên cạn và dưới nước trong KSQ trong 10 năm 2009-2019 như sau:

(1) Diễn thế các HST theo chiều hướng tích cực

Ngoài các HST cơ bản, ít biến động như HST vùng triều bờ đá, vùng triều bờ cát, diễn thế các HST quan trọng trong KSQ sau 10 năm thể hiện một sự thành công lớn trong việc hài hòa giữa bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hội An:

@ Rừng nguyên sinh Cù Lao Chàm: Theo hồ sơ đề cử KSQ (2008) tính đến năm 2006, rừng nguyên sinh Cù Lao Chàm được ghi nhận có nhiều cây gỗ quý, nhiều loài có giá trị khoa học. Từ độ cao 100m trở xuống, đã ghi nhận có 499 loài thuộc 352 chi, 115 họ của 5/6 ngành thực vật bậc cao có mạch, 1/20 tổng số loài, 1/6 tổng số chi và tổng số họ của thực vật Việt Nam. Trong đó có hơn 288 loài cây thuốc nam (Những loài dược liệu quí như Hoàng Nam, cỏ Xước, Bách Lộ, Lạc Tiên, Mã Đề và một số loài trong họ Gừng ...vv) xen lẫn trong những cánh rừng thường xanh với những cây cổ thụ như Gõ mật, Lim xanh, Dầu lôn, Chò nâu, Huỷnh, Bời lời đỏ hàng trăm năm tuổi [10].

Trong 10 năm, KSQ luôn tổ chức các nghiên cứu nhằm tiếp tục cập nhật, bổ sung dữ liệu đa dạng sinh học rừng Cù Lao Chàm. Các nghiên cứu cho đến nay (2019) đã xác định được rừng Cù Lao Chàm cũng là nơi cư trú của 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái, nhiều loài quý hiếm như Lan Nhung, Trầm Hương. Đặc biệt, đã phát hiện tại Cù Lao Chàm có nhiều loài trong sách đỏ của Việt Nam và IUCN. Riêng năm 2017, Cù Lao Chàm đã bổ sung 01 loài rắn mới vào danh mục của thế giới với tên khoa học Oligodon culaochamensis. Bên cạnh đó, có 6 cây quý ở Cù Lao Chàm gồm: 3 cây Cây ngô đồng đỏ; 1 cây Nánh, 1 cây Kén; 1 cây Đa đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là “Cây di sản” năm 2014 [2].

@ Rạn san hô: Kết quả khảo sát Đa dạng sinh học (ĐDSH) trong KSQ năm 2017 tích hợp nghiên cứu trước đây đã ghi nhận có 311 loài san hô, trong đó có 292 loài thuộc 23 họ san hô cứng tạo rạn phân bố trên diện tích khoảng 356 hecta. Đây là nơi ẩn nấp, bắt mồi, sinh trưởng, sinh sản để duy trì và phát triển nguồn lợi của rất nhiều loài thủy hải sản như cá, giáp xác, nhuyễn thể, da gai…vv. Thêm vào đó, có 88 loài thuộc 33 họ rong lớn, 113 loài thuộc 38 họ trong ngành thân mềm, trên 11 loài thuộc 8 giống và 7 họ dai gai kích thước lớn, 171 loài thuộc 39 họ, chiếm 64% trong tổng số 267 loài của 54 họ cá rạn [5]. Nhìn chung, giai đoạn 2009 - 2019, diện tích rạn san hô ở vùng lõi KSQ chỉ giảm khoảng 0,8 ha ở khu vực Bãi Hương do bị san lấp và phá hủy bởi công trình cầu tàu.

@ Thảm cỏ biển: Số liệu khảo sát năm 2017, có khoảng 60 ha, trong đó khu vực hạ lưu sông Thu Bồn có 43 ha và Cù Lao Chàm có 17 ha. Ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn, thảm cỏ biển chủ yếu tập trung ven các cồn bãi (Gò Hí) bên ngoài rừng dừa nước ở Cẩm Thanh. Diện tích thảm cỏ biển cũng bị thu hẹp theo thời gian, đáng kể nhất ở khu vực Cù Lao Chàm giảm từ khoảng 50 ha trong năm 2004 xuống 37,1 ha trong năm 2008 và 17 ha vào năm 2016 (giảm 33 ha, tương đương 66%), đặc biệt tại các khu vực Bãi Ông và Bãi Hương gần như bị vùi lấp hoàn toàn và chỉ còn một số đốm nhỏ rãi rác nên không hình thành thảm cỏ biển. Ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn giảm tương đối ít từ 44,6 ha trong năm 2004 và 2008 xuống còn 43 ha vào năm 2016, tức chỉ giảm 1,6 ha [5].

@ Thảm rong biển: Cùng với san hô, quần xã rong biển tại Cù Lao Chàm phân bố gần với các rạn san hô, chúng sống chủ yếu trên các tảng đá, rạn ngầm, vách đá từ vùng triều đến vùng dưới triều ở độ sâu khoảng 4m. Tại đây đã phát hiện có 76 loài rong biển kích thước lớn, phổ biến nhất là phân bố của 7 loài rong mơ, chúng bắt đầu mọc từ tháng 1 và tự tàn lụi vào tháng 7-8 [5]. Các thảm rong biển cũng là nơi trú ẩn, bắt mồi và quan trọng nhất đây chính là các giá thể để các loài thủy sản đẻ trứng, sau một thời gian trứng nở ra ấu trùng và phát triển thành con non và chúng cũng chỉ sống quanh quẩn tại các thảm rong biển trước khi vươn ra các vùng môi trường rộng lớn hơn.

@ Rừng ngập mặn hạ lưu sông Thu Bồn: Có khoảng 117 ha, tập trung chủ yếu ở rừng dừa nước của xã Cẩm Thanh (81,5 ha). Phần diện tích nói trên không gồm khoảng 26 ha rừng dừa nước mới trồng.

dienbienSrungdua4

 

Hình 3: Diễn biến diện tích phân bố dừa nước tại Cẩm Thanh [9]

@ Hệ sinh thái vùng triều bờ đá: Quần đảo Cù Lao Chàm là trung tâm đa dạng sinh học không chỉ dưới biển, nơi đang sở hữu các HST rạn san hô và thảm cỏ biển mà còn cả rừng thường xanh với tính đa dạng sinh học rất cao trên các đảo. Các HST trên rừng và dưới biển không tồn tại độc lập mà giữa chúng có tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau bằng mối liên kết sinh thái thông qua các bãi biển và vùng triều bờ đá. Nơi đây cũng chính là sinh cảnh quan trọng của các loài giáp xác và nhuyễn thể, có thể kể đến các quần thể ốc vú nàng, ốc vú sao, các loài giáp xác...vv. Đến mùa sinh sản, loài cua đá (Gecarcoidea lalandii) di cư từ các cánh rừng trên đảo đến các vùng triều bờ đá để đẻ trứng, phóng thích ấu trùng vào nước biển; với tập tính đặc biệt này, cua đá không những là tài nguyên quan trọng đối với sinh kế của người dân xã đảo mà còn là sinh vật chỉ thị cho chất lượng và mối liên kết HST rừng – biển tại đảo Cù Lao Chàm [3].

Như vậy có thể thấy, KSQ quản lý tài nguyên, cụ thể là bảo tồn các HST trên cạn và dưới nước, chính là bảo đảm, duy trì tính liên kết giữa chúng thông qua HST vùng triều bờ đá theo phương thức tiếp cận từ đỉnh núi đến rạn san hô (Ridge to Reef – 2R) để các HST này tồn tại, phát triển và cung cấp các dịch vụ HST một cách hiệu quả và bền vững.

@ Hệ sinh thái cồn nổi trên sông, ven biển: Với diện tích tự nhiên chỉ vào khoảng 61 km2 nhưng có đến 21% là diện tích các thủy vực [8], địa hình tự nhiên của thành phố Hội An bị chia cắt bởi nhiều sông rạch đã tạo nên hệ thống cồn - bàu liên tục xen kẽ nhau như Bàu Tràm, Bàu Súng, Bàu Rêu, Bàu Sấu, Bàu Ốc, Cồn Phi, Cồn Giác, Bãi Bà Mau, Cồn Bắp, hệ Cồn Nổi Cẩm Nam (cồn hến), cồn Ba Xã, Cồn Ông Hơi, Cồn Thuận Tình, gò Hí...vv. Theo kết quả khảo cổ học cho thấy các cư dân cổ qua các thời kỳ văn hóa đều dựa vào cồn - bàu ven sông để cư trú, sinh sống. Vì thế, các nhà khoa học gọi văn hóa Hội An là “Văn hóa cồn bàu” [8]. Do áp lực và nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố, hầu hết các khu vực này đã và sẽ nằm trong khu vực các dự án đã được cấp phép. Một điều chắc chắn là tính “hoang sơ” là các giá trị đặc trưng của KSQ sẽ mất dần. Địa hình cồn bãi bị biến động, dẫn tới sự thay đổi hàng loạt các yếu tố như: lớp thổ nhưỡng, lớp phủ sinh vật, lớp trầm tích bề mặt…vv dẫn đến sự thay đổi nguồn nước và các điều kiện vi khí hậu. Đơn cử, khi các thảm thực vật bề mặt tại các bãi biển mất, diễn thể địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng sẽ diễn ra như qui luật trên và hậu quả sẽ là giảm vai trò phòng hộ và gây nên tác động bồi lắng tại cửa sông và là một trong những tác nhân gây xói lở tại bãi biển. Trong khi đó, vòng đời của đa số các loài thủy sản có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và diễn thế của hệ thống cồn bãi tự nhiên. Sự tác động và can thiệp vào cấu trúc của hệ thống cồn bãi tự nhiên này ở mức độ như thế nào, qui mô và tính chất ra sao vẫn đang là mối quan tâm không chỉ của giới khoa học mà cũng là mối quan ngại của lãnh đạo, chính quyền và người dân Hội An.

@ Hệ sinh thái nông nghiệp: Bên cạnh việc tạo ra sản phẩm nông nghiệp trực tiếp như lúa, hoa màu, rau xanh, hoa, cây cảnh thì các khu vực canh tác nông nghiệp của thành phố Hội An còn có giá trị tạo cảnh quan sinh thái, điều hòa môi trường, cung cấp cơ sở cho các loại hình du lịch trải nghiệm, du lịch nông nghiệp. Trong 10 năm qua, thành phố đã nỗ lực không chỉ bảo vệ mà còn phát triển các HST nông nghiệp thông qua đề án phát triển KTXH của các khu vực nông thôn đặc thù như: Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm Hà và xã đảo Tân Hiệp, chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ (ORGANIC). Định hướng của thành phố là ưu tiên bảo tồn diện tích đất phi đô thị, chú trọng phát triển nông nghiệp sạch gắn với các làng nghề truyền thống để phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nông nghiệp, tăng giá trị dịch vụ trên đất nông nghiệp.

@ Các hệ sinh thái khác: Ngoài những HST nêu trên, KSQ còn chứa đựng những HST quan trọng khác như HST sông, HST cửa sông, HST đất ngập nước...vv rất cần thiết trong việc ổn định cuộc sống người dân và đặc biệt góp phần vào quá trình duy trì tính liên kết giữa các HST, đảm bảo sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Hay nói cách khác, KSQ là nơi thực nghiệm các mô hình phát triển dựa trên nền tảng bảo tồn tính liên kết giữa các HST để chúng cung cấp các dịch vụ HST, phục vụ phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu của thành phố Hội An. Như vậy, thành phố Hội An đang phát triển kinh tế - xã hội mà chủ yếu là kinh tế du lịch và dịch vụ chủ yếu dựa trên nền tảng cảnh quan sinh thái, không gian văn hóa, các giá trị đa dạng sinh học hài hòa cùng với kho tàng tri thức bản địa. Tất cả những giá trị trên đều được cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp từ các HST của KSQ. Do đó, việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các HST là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của KSQ.

(2) Tài nguyên nhân văn được bảo tồn và phát huy

Song hành với việc bảo tồn các giá trị tài thiên nhiên, công tác quản lý, đầu tư tu bổ di tích được quan tâm thực hiện thường xuyên. Các hoạt động bảo tàng, sưu tầm tư liệu, nghiên cứu, hội thảo khoa học cũng được chú trọng. Đặc biệt là đã triển khai đề tài nghiên cứu khoa học “Địa chí Hội An”, xây dựng các hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, hồ sơ đề nghị công nhận nghệ nhân ưu tú; tổ chức tốt các cuộc tham vấn, hội thảo khoa học, qua đó góp phần phát huy giá trị di sản văn hóa Phố cổ Hội An [6]. Thành phố tập trung tổ chức định kỳ nhiều sự kiện văn hóa có tầm ảnh hưởng lớn, điển hình như sự kiện “Đêm phố cổ”, “Festival Di sản Quảng Nam”, “Liên hoan ẩm thực Quốc tế”, “Hội thi Hợp xướng Quốc tế”, “Giao lưu văn hóa Hội An - Nhật Bản”, “Festival tơ lụa và thổ cẩm Việt Nam - Thế giới”…vv. Đặc biệt là tổ chức thành công các hoạt động trong khuôn khổ Tuần lễ cấp cao APEC tại Hội An năm 2017 [6].

Những thách thức đang ở phía trước

Tài nguyên quan trọng của KSQ chính là giá trị cảnh quan sinh thái, tính đa dạng sinh học và giá trị văn hóa lịch sử của địa phương. Giá trị nổi bậc của KSQ chính là sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Tuy nhiên tài nguyên và những giá trị của KSQ đang đứng trước những khó khăn và thách thức rất lớn: \

(i) Vấn đề ô nhiễm: Cảnh quan, các HST và tính ĐDSH tại KSQ đang bị tác động nặng do nguồn nước bị ô nhiễm từ hoạt động dân sinh, các công trình xây dựng và ảnh hưởng từ lưu vực sông và các dòng hải lưu ven bờ.

(ii) Áp lực từ du khách: Sự gia tăng nhanh chóng số lượng và nhu cầu sử dụng thực phẩm, các dịch vụ HST của khách đến KSQ, gây áp lực rất lớn đến môi trường, sức khỏe các HST. Trong lúc cơ sở hạ tầng, năng lực của doanh nghiệp và cộng đồng chưa nâng cao tương ứng thì sự gia tăng đột biến số lượng du khách là một thách thức đáng kể đối với môi trường, tài nguyên và các giá trị nổi trội của KSQ.

(iii) Sự bất cập, chưa hòa hợp giữa các mục tiêu chiến lược của thành phố: Quần đảo Cù Lao Chàm được ghi nhận có tính ĐDSH cao cả trên rừng và dưới biển. Các HST và tính ĐDSH ở đây có mối liên kết sinh thái rất mật thiết từ đỉnh núi, qua các cánh rừng, đến vùng triều bờ đá/bãi biển cho đến các rạn san hô, thảm cỏ biển dưới đáy đại dương. Tuy nhiên, sự liên kết này đang bị ảnh hưởng không nhỏ bởi các con đường bao quanh đảo cũng như các công trình xây dựng trên đảo. Đất đá, chất thải công trình theo dòng chảy tích tụ và gây ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các rạn san hô và thảm cỏ biển xung quanh đảo. Vùng sinh cư của các loài bị thu hẹp, đường di cư sinh sản và chu kỳ vòng đời của chúng bị phân cắt. Vùng cửa sông, nơi có các các bãi đẻ và ươm giống của nhiều loài thủy sản, trong đó có rất nhiều loài có quan hệ quần thể với nguồn lợi thủy hải sản tại quần đảo Cù Lao Chàm. Tuy nhiên, vùng cửa sông đang chịu áp lực ngày một lớn từ việc đầu tư các công trình cứng và cơ sở hạ tầng trong lưu vực. Thực trạng này đã và sẽ làm ảnh hưởng đến cảnh quan sinh thái, mất tính hoang sơ, thay đổi dòng chảy, suy giảm lượng bùn cát, giảm khả năng kiểm soát chất lượng môi trường của rừng ngập mặn, cắt đứt mối liên kết sinh thái/quần thể trong KSQ, lưu vực sông cũng như vùng bờ ven biển duyên hải miền Trung.

(iv) Tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu: Bão tố, lũ lụt, hiện tượng nước biển ấm lên và những tác động khác của biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên và các giá trị của KSQ. Trầm tích, sự ngọt hóa và ô nhiễm nguồn nước là nguyên nhân gây ra hiện tượng tấy trắng san hô (Coral bleaching) và làm chết nhiều thảm cỏ biển. Hiện tượng sạt lở bờ sông, xói lở bãi biển đang là vấn đề lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển du lịch nói riêng, sinh kế người dân và tình hình KTXH của thành phố nói chung.

Thay cho lời kết

Nhìn tổng thể, sau 10 năm được UNSECO công nhận, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn và các giá trị nổi trội của KSQ được bảo tồn và phát triển tốt. Đáng kể nhất là bảo tồn được 117 ha diện tích rừng dừa nước tại hạ lưu sông Thu Bồn. Rạn san hô được cộng đồng chung tay bảo tồn và phát triển. Các HST quan trọng được bảo tồn và phát triển là điều kiện tốt để duy trì tính ĐDSH. Quan trọng nhất là đã xác định được vòng đời, bãi đẻ, bãi ươm giống tự nhiên của nhiều loài thủy sản trong mối liên kết sinh thái, liên kết quần thể giữa vùng cửa sông Thu Bồn và quần đảo Cù Lao Chàm. Đây chính là chìa khóa nhằm bảo tồn hiệu quả tính ĐDSH học và nguồn lợi thủy sản của KSQ nói riêng và hành lang đa dạng sinh học vùng duyên hải Trung Trung bộ nói chung.

Tuy nhiên, dưới tác động của thiên nhiên và áp lực phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2009 – 2016 đã làm thay đổi nhiều khá nhiều về chất lượng môi trường và sự tồn tại của các quần xã sinh vật trong KSQ. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng rộng khắp từ hệ thống cồn bãi tự nhiên, bùng nổ du lịch, khai thác thủy sản bằng các phương thức có tính hủy diệt, dòng nước ngọt kéo theo trầm tích và ô nhiễm từ lưu vực sông, sinh vật địch hại …vv đã gây ra hiện tượng tẩy trắng san hô và làm mất đi khoảng 112,5 ha các sinh cảnh quan trọng gồm 77,1 ha dừa nước; 34,6 ha thảm cỏ biển và 0,8 ha rạn san hô, đặc biệt thảm cỏ biển ở Bãi Ông và Bãi Hương hầu như bị biến mất.

Nhìn về tương lai, định hướng lớn của thành phố là xây dựng Hội An trở thành Thành phố Sinh Thái – Văn Hóa – Du lịch với nguồn tài nguyên thiên nhiên - nhân văn được bảo tồn nguyên vẹn. Phố cổ vẫn giữ nguyên được nét cổ kính, các làng quê sinh thái yên bình, nhận thức con người về môi trường được nâng cao, sinh kế phát triển bền vững trên nền tảng của bảo tồn những giá trị nổi trội của Hội An. Đây là một viễn cảnh không xa và để đạt được mục tiêu này, chúng tôi thiết nghĩ rằng, việc lựa chọn cách tiếp cận phù hợp, phát huy nội lực và kêu gọi toàn xã hội cùng tham gia và thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp chiến lược đó là:

(1) Chiến lược truyền thông, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi.

Thực hiện chương trình truyền thông rộng khắp về giá trị, công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị của KSQ đến đông đảo người dân, du khách, đặc biệt là doanh nghiệp, những người có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên trong KSQ; Tăng cường áp dụng, thực thi Quy chế quản lý KSQ trên phạm vi tỉnh Quảng Nam.

(2) Chiến lược đào tạo, nâng cao năng lực.

Đào tạo kỹ năng truyền thông, giao tiếp ứng xử cho các đối tượng là hướng dẫn viên, thuyết minh viên và cộng đồng làm dịch vụ du lịch để phục vụ cho mục tiêu chung là phát triển du lịch sinh thái dựa trên nền tảng bảo tồn; Tăng cường tổ chức các khóa tập huấn, các cuộc hội thảo về các cách tiếp cận phù hợp, hiệu quả đối với việc vận hành KSQ;

(3) Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng Khoa học công nghệ. Nghiên cứu áp dụng, triển khai các kết quả đề tài, dự án khoa học công nghệ vào thực tế quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững giá trị tài nguyên trong KSQ; Tiếp tục tìm nguồn đầu tư cho các dự án, đề tài khoa học trên các lĩnh vực ưu tiên như là: lượng hóa giá trị các HST, sức tải môi trường, du lịch sinh thái, bảo tồn tài nguyên, biến đổi khí hậu...vv; Kiểm kê, đánh giá tài nguyên rừng nguyên sinh Cù Lao Chàm; Nghiên cứu qui hoạch quản lý sử dụng bền vững tài nguyên trong KSQ; Chương trình phát triển cacbon thấp; Nghiên cứu về tình trạng xói lở bãi biển rất nghiêm trọng tại Hội An.

(4) Chiến lược xây dựng luận cứ khoa học hỗ trợ cho công tác quản lý. Các HST và tính ĐDSH trong KSQ là rất nhạy cảm với sự thay đổi môi trường, các yếu tố ngoại cảnh. Mọi sự thay đổi sẽ diễn ra theo nguyên lý kéo theo và tác động toàn diện lên tất cả nguồn tài nguyên. Việc quản lý tài nguyên thực chất chính là quản lý hành vi của con người gây nên sự thay đổi. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để xác định tính liên kết theo các qui luật tự nhiên và xây dựng nên các luận cứ khoa học là rất quan trọng phục vụ cho việc hoạch định các chính sách và định hướng lớn của KSQ và thành phố Hội An.

(5) Chiến lược phát triển sinh kế bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiệm vụ phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu là vấn đề trọng tâm trong chiến lược của thành phố Hội An. Vệc khai thác tài nguyên phục vụ sinh kế tại các làng nghề cũng như các loại hình dịch vụ cần tính toán và có qui hoạch rõ ràng nhằm đảm bảo cung cấp nguyên liệu đồng thời không làm phương hại đến các giá trị tài nguyên mà KSQ đang nỗ lực bảo tồn. Đồng thời, nhanh chóng thực hiện chương trình phát triển nhãn hiệu chứng nhận KSQ cho các sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi KSQ. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình phát triển nông nghiệp sạch; giảm thiểu sử dụng túi nilon và các sản phẩm nhựa dùng một lần, phân loại và xử lý rác thải để giảm phát thải ra môi trường. Thông qua đó sẽ giúp khẳng định uy tín, nâng cao chất lượng, tăng giá trị thương hiệu KSQ, thu hút sự tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động KSQ để phát triển kinh tế chất lượng trên nền tảng bảo tồn.

(6) Chiến lược giám sát, đánh giá tài nguyên. Việc thường xuyên kiểm kê, đánh giá, giám sát tài nguyên, các giá trị nổi trội của KSQ là cơ sở, nền tảng của công tác bảo tồn. Thông qua đó, giúp các bên liên quan hiểu rõ về hiện trạng, các nguồn tác động để xây dựng các nhóm giải pháp và chương trình hành động cụ thể để bảo tồn và phát triển tài nguyên một cách bền vững. Ngoài ra, các chiến lược quan trọng khác như: phát triển nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, quản lý cơ sở dữ liệu của KSQ, đầu tư cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ bản...vv cần được quan tâm thực hiện đồng bộ để thực hiện thành công mục tiêu xuyên suốt của KSQ và thành phố Hội An là xây dựng thành phố Hội An theo định hướng Sinh thái – Văn hóa – Du lịch theo nguyên tắc “Bảo tồn để phát triển và Phát triển cho bảo tồn”./.

Tài liệu tham khảo:

[1] BQL KSQ CLC-HA, 2015. Kế hoạch quản lý tổng hợp Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An giai đoạn 2015-2019, tầm nhìn 2030.

[2] BQL KSQ CLC-HA, 2017. Kết quả hoạt động giai đoạn 2009 – 2017, định hướng đến 2020. MAB Việt Nam, 2018

[3] Lê Ngọc Thảo, 2017. Tiếp cận và vận hành hiệu quả KSQ CLC – Hội An. Tuyển tập hội thảo quốc gia chương trình Con người và Sinh quyển MAB Vietnam 2017.

[4] Nguyễn Hoàng Trí, 2013. Áp dụng mô hình Tư duy hệ thống - Qui hoạch cảnh quan – Điều phối liên ngành và Kinh tế chất lượng (SLIQ) trong thiết lập và quản các Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo “Áp dụng qui hoạch không gian biển và vùng bờ Việt Nam – Cách tiếp cận quản lý dựa vào hệ sinh thái. IUCN Việt Nam 2013.

[5] Nguyễn Văn Long và ctv, 2017. Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu DTSQ Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An.

[6] Phòng VHTT TP Hội An, 2018. Tổng hợp một số tư liệu thành tựu kinh tế - xã hội sau 10 năm thành lập thành phố Hội An 2008 – 2018.

[7] Thành ủy Hội An, 2018. Hội An 10 năm – Kế thừa và Phát triển bền vững. Đặc san kỷ niệm 10 năm thành lập thành phố Hội An (2008-2018).

[8] UBND thành phố Hội An, 2013. Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH thành phố Hội An đến năm 2020, tầm nhìn 2025.

[9] UBND xã Cẩm Thanh và BQL KSQ CLC-HA, 2018. Kế hoạch quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng dừa nước và tài nguyên liên quan tại Cẩm Thanh – vùng đệm Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, giai đoạn 2018-2022, tầm nhìn 2030.

[10] UBND tỉnh Quảng Nam, 2008. Hồ sơ đề cử Khu dự trữ sinh quyển thế giới CLC-HA. [11] Võ Thanh Sơn, 2018. Báo cáo đánh giá kiểm chứng Bộ tiêu chí và Quy trình giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý tại Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An. Đề tài “Nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chí và Quy trình giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý các khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam”, Mã số: ĐTĐLXH, 13/15.

Lê Ngọc Thảo

Trưởng ban thư ký - Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An

 
 

NHỮNG NỖ LỰC BẢO TỒN VÀ PHỤC HỒI CÁC ĐỐI TƯỢNG TÀI NGUYÊN MỤC TIÊU TẠI CÙ LAO CHÀM

PDF.InEmail

Thứ ba, 18 Tháng 6 2019 16:21 Số truy cập:612

Khu bảo tồn biển (Khu BTB) Cù Lao Chàm được hình thành trong giai đoạn 2005 – 2006, với nhiều giá trị tài nguyên thiên nhiên nổi trội như các hệ sinh thái (HST) rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển, bãi biển và vùng triều, hệ sinh thái rừng đặc dụng Cù Lao Chàm,…vv.

Để quản lý hiệu quả Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, phương thức quản lý tổng hợp, với nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng địa phương đã được quan tâm thực hiện xuyên suốt trong quá trình quản lý.

Đến nay, Ban quản lý (BQL) Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã xây dựng và thực hiện 02 kế hoạch quản lý tổng hợp (KHQL), cụ thể: KHQL 05 năm lần thứ nhất được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt và thực hiện trong giai đoạn 2009 – 2013 (theo QĐ số 4532/QĐ-UBND ngày 31/12/2008) và KHQL 05 năm lần thứ hai do UBND thành phố Hội An phê duyệt, thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2018 (theo QĐ số 1999/QĐ-UBND ngày 20/10/2015) với mục tiêu chung là bảo tồn và tôn tạo các giá trị tài nguyên thiên nhiên, môi trường, đa dạng sinh học; các giá trị di tích văn hóa; khai thác hợp lý và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên trong Khu BTB; cải thiện và nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh Khu BTB; phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội tại địa phương; đảm bảo và duy trì chức năng của vùng lõi KSQ Cù Lao Chàm – Hội An. Trong đó, BQL cùng với cộng đồng đã xác định một số đối tượng, tài nguyên có giá trị sinh học, sinh thái và kinh tế cao để chọn làm đối tượng tài nguyên mục tiêu (ĐTMT) nhằm ưu tiên bảo vệ và phục hồi gồm: hệ sinh thái rạn san hô (RSH), thảm cỏ biển, rừng đặc dụng, hệ rong biển, nhóm cá rạn, rùa biển, tôm hùm, bàn mai, trai tai tượng, bào ngư và ốc vú nàng.

Nhằm đưa ra những phương thức quản lý, bảo tồn và phục hồi có hiệu quả, BQL đã thiết lập và thực hiện các chương trình giám sát thường xuyên các nhóm ĐTMT để theo dõi diễn biến nhóm này như: giám sát chất lượng môi trường nước biển ven bờ hàng tháng (chỉ số giám sát: nhiệt độ, pH, DO, độ đục, độ mặn); giám sát hệ sinh thái RSH vào tháng 5 hàng năm (chỉ số giám sát: độ phủ RSH, mật độ nhóm cá rạn, mật độ động vật đáy, mật độ các tác động lên RSH); giám sát hệ sinh thái thảm cỏ biển vào tháng 7 hàng năm (chỉ số giám sát: độ phủ thảm cỏ biển, thành phần loài cỏ, mật độ sinh vật sống trong thảm cỏ biển); chương trình ghi chép sổ Nhật ký khai thác nghề cá được triển khai hàng tháng cho ngư dân Cù Lao Chàm (chỉ số: ngư trường, mùa vụ, sản lượng và kinh tế nghề cá).

Kết quả giám sát hàng năm của BQL cho thấy độ phủ trung bình RSH toàn vùng Cù Lao Chàm đang có dấu hiệu tăng từ năm 2013 đến nay, ở mức 42,02% tăng lên 50,97%. Tuy độ phủ RSH có sự gia tăng nhưng mật độ các loài sinh vật chỉ thị sống trong RSH ngày càng suy giảm, đặc biệt là các loài có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, trai tai tượng, cá chình, cá hồng, cá mú kích thước lớn (trên 30cm). Điều này cho thấy áp lực khai thác đang ngày càng gia tăng tại các vùng rạn và công tác quản lý chưa thực sự hiệu quả.

H1

Hình 1. Diễn biến độ phủ RSH tại Cù Lao Chàm

H2

Hình 2. Diễn biến mật độ nhóm cá kinh tế Cù Lao Chàm

H3

Hình 3. Diễn biến mật độ nhóm động vật đáy Cù Lao Chàm

H4

Hình 4. Diễn biến mật độ nhóm cá chỉ thị Cù Lao Chàm

Tương tự như hệ sinh thái RSH, các nguồn lợi sinh vật sống trong thảm cỏ biển cũng đang có xu hướng giảm dần. Đặc biệt là nhóm cá dìa hầu như ít phát hiện trong các đợt giám sát cỏ biển hàng năm của BQL. Cá dìa là loài ăn cỏ và rong đặc trưng, ngoài ra còn có giá trị kinh tế cao. Do đó sự suy giảm đáng kể loài này phản ảnh hiện trạng chất lượng cỏ biển đang diễn biến xấu và sự khai thác quá mức của ngư dân.

H5

Hình 5. Diễn biến mật độ sinh vật sống trong thảm cỏ biển Cù Lao Chàm

Bên cạnh đó, BQL đã phối hợp với các cơ quan đơn vị có chuyên môn để điều tra, đánh giá đa dạng sinh học toàn vùng đối với các hệ sinh thái đặc trưng, quan trọng. Kết quả dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An” do Viện Hải dương học thực hiện từ năm 2015-2016 đã ghi nhận Khu sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An có 1667 loài thuộc 455 họ của 11 nhóm sinh vật chủ yếu và 533,4ha diện tích các hệ sinh thái tiêu biểu (gồm 356,4ha rạn san hô; 117ha rừng dừa nước tự nhiên; 43ha thảm cỏ biển ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn và 17ha thảm cỏ biển ở Cù Lao Chàm). Tuy nhiên, dưới áp lực phát triển kinh tế-xã hội và thay đổi về môi trường trong 12 năm qua (2004 – 2016), diện tích các hệ sinh thái tiêu biểu trong KSQ đã bị mất khoảng 112,5ha (gồm 77,1ha rừng dừa nước; 34,6ha thảm cỏ biển và 0,8ha rạn san hô), đặc biệt thảm cỏ biển tại Bãi Ông và Bãi Hương hầu như bị biến mất. Cấu trúc quần xã sinh vật rạn san hô bị thay đổi theo hướng giảm nhẹ cả về độ giàu có (1,2 lần) và phong phú loài (1,1 lần), nguồn lợi sinh vật rạn có giá trị chưa có dấu hiệu phục hồi.

 H6

Hình 6. Bản đồ phân bố bãi đẻ và ương giống của các nhóm nguồn lợi quan trọng trong KSQ

H7

Hình 7. Ốc gai đẻ trứng ở Hòn Lá và Hòn Dài

H8

    Hình 8. Tổ trứng mực lá trên RSH ở Hòn Dài

Bắt đầu từ năm 2018, BQL phối hợp với Viện Sinh học Nhiệt đới TP.HCM triển khai điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học hệ rong biển tại Cù Lao Chàm. Kết quả khảo sát ban đầu năm 2018 tại các khu vực Tây Hòn Tai, Bãi Hương, Bãi Bắc, Hòn Lá đã ghi nhận được 39 loài rong, trong đó có khoảng 10 loài có sinh lượng khá lớn và đồng thời cũng là các loài rong có vai trò sinh thái quan trọng.

     H9

Hình 9. Quần thể rong Sargassum (Rong mơ) 

H10

 Hình 10. Quần thể rong Turbinaria (cùi bắp)

   H11

Hình 11. Quần thể rong Lobophora 

H12

  Hình 12. Quần thể rong Pandina

Tiếp nhận nhiệm vụ nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học rừng đặc dụng Cù Lao Chàm được UBND thành phố Hội An chính thức giao cho BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm từ năm 2014, đến nay BQL đã phối hợp với Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) thực hiện các đề án “Điều tra thành phần loài và xây dựng danh lục thực vật bậc cao trên cạn tại đảo Hòn Lao thuộc khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2017), “Nghiên cứu cấu trúc rừng và điều tra bổ sung thành phần loài thực vật bậc cao trên cạn trên các đảo thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2018) và “Điều tra thành phần loài và xây dựng cơ sở dữ liệu khu hệ thú trên các đảo thuộc Khu dữ trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2018). Kết quả các đề án đến nay đã ghi nhận rừng đặc dụng Cù Lao Chàm có 500 loài thực vật thuộc 5 ngành, 50 bộ và 107 họ; 15 loài thú thuộc 6 bộ, 12 họ. Trong đó có 09 loài thực vật và 02 loài thú quý hiếm nằm trong danh lục nguy cấp và quý hiếm của Việt Nam và thế giới (IUCN). Ngoài ra, đề án còn phát hiện 02 loài Ráy có khả năng sẽ là loài mới cho khoa học và lần đầu tiên ghi nhận tại đảo Cù Lao Chàm và ghi nhận vùng phân bố mới của 01 loài Lan hoại sinh. Đề án cũng đã tạo lập và đưa vào sử dụng bộ mẫu tiêu bản trưng bày 80 loài thực vật rừng phổ biến của Cù Lao Chàm nhằm truyền thông cho cộng đồng và du khách.

      H13

 Hình 13. Khỉ vàng (mục IIB-NĐ32CP/2006)

H14

       Hình 14. Tê tê Java (EN – SĐVN 2007)

H15

Hình 15. Sâm cau, Cồ nốc lan, Ngải cau – Curculigo orchioides Gaertn (EN-SĐVN)

Đối với một số ĐTMT chưa có dữ liệu thông tin, BQL đã đăng ký thực hiện các đề tài khoa học nhằm điều tra hiện trạng ĐTMT, từ đó đưa ra những giải pháp quản lý, bảo vệ và phục hồi phù hợp. Thông qua kết quả đề tài “Điều tra thành phần loài, vùng phân bố, kích thước quần thể, hiện trạng khai thác và xây dựng giải pháp bảo vệ giống trai tai tượng (Tridacna) và bàn mai (Pinna) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” (2014-2016), năm 2018 BQL đã thực hiện chuyển vị thí điểm thành công 06 cá thể trai tai tượng từ các khu vực khác về vùng khoanh nuôi phục hồi tại Bãi Bắc nhằm gia tăng khả năng sinh sản, phục hồi trong tự nhiên của giống này. Một tổ cộng đồng khai thác và bảo vệ tôm hùm, ốc vú nàng tại Cù Lao Chàm được thành lập thông qua kết quả đề tài “Điều tra thành phần loài, phân bố sinh thái, hiện trạng khai thác và xây dựng mô hình đồng quản lý nguồn lợi tôm hùm, ốc vú nàng tại Cù Lao Chàm” (2011-2013). Đặc biệt, BQL đã ứng dụng thành công phương pháp phục hồi san hô cứng và chuyển vị rùa biển tại Cù Lao Chàm. Kết quả đề tài “Ứng dụng công nghệ phục hồi một số loài san hô cứng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có sự tham gia của cộng đồng” (2015 – 2017) đã xây dựng thành công 02 vườn ươm san hô với tổng diện tích 30m2 gồm 595 tập đoàn tại hai khu vực Bãi Bò, Bãi Nần và phục hồi 4000m2 gồm 2783 tập đoàn tại hai khu vực Bãi Bắc và Bãi Tra với tỉ lệ sống trung bình đạt 79,85%. Đề tài “Phục hồi và bảo tồn rùa biển (Cheloniidae) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” (2017 – 2019) bước đầu đã chuyển vị và ấp nở thành công 90% trứng rùa biển từ Côn Đảo về Cù Lao Chàm trong 2 năm 2017 và 2018.

H16

Hình 16. Phục hồi Trai tai tượng

H17

Hình 17. Phục hồi san hô

Ngoài ra, BQL cũng đã kêu gọi tài trợ từ các tổ chức quốc tế và thực hiện thành công các dự án này trong các lĩnh vực truyền thông nâng cao nhận thức, cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương. Từ năm 2013 đến nay, Chương trình Rừng ngập mặn cho tương lai (MFF) đã tài trợ cho BQL thực hiện các dự án “Xây dựng cơ chế quản lý rạn san hô và thực hiện thí điểm phục hồi 2000m2 san hô cứng có sự tham gia của cộng đồng tại thôn Bãi Hương, Tân Hiệp, Hội An” (2013-2015); “Thí điểm mô hình hợp tác 4 nhà (nhà nước – nhà nông – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp) trong hoạt động giám sát khai thác cua đá tại Cù Lao Chàm” (2014 – 2015); “Nâng cao khả năng phục hồi của các sinh kế cộng đồng và công tác quản lý thích ứng taị các khu bảo tồn biển địa phương của Việt Nam, từ hành động địa phương đóng góp tới mạng lưới quốc gia” (2013 – 2015); “Bảo tồn các đối tượng tài nguyên mục tiêu (Trai tai tượng, bàn mai, ốc vú nàng, bào ngư, tôm hùm) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” (2016 – 2017). Kết quả các dư án đã góp phần vào việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng, học sinh và các bên liên quan trong việc bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản, qua đó góp phần phát triển bền vững nguồn lợi, tạo sinh kế lâu dài cho cộng đồng địa phương thông qua phát triển du lịch sinh thái nhờ các hệ sinh thái được bảo vệ và phục hồi tốt. Các dự án cũng đã hướng tới trao quyền cho cộng đồng địa phương để nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản thiên nhiên mà họ đang có được. Điển hình như sự tham gia của cộng đồng Tiểu khu bảo tồn biển thôn Bãi Hương trong việc phục hồi san hô, tuần tra kiểm soát trên biển, truyền thông bảo vệ môi trường và nguồn lợi tự nhiên, xây dựng kế hoạch quản lý của Tiểu khu. Hay là sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua đá Cù Lao Chàm trong việc khai thác đúng kích cỡ, mùa vụ và thực hiện dán nhãn sinh thái Cua đá. Tổ cộng đồng khai thác cua đá này cũng chính là kết quả của dự án “Cộng đồng tham gia phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững Cua đá Cù Lao Chàm” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ từ năm 2010 đến 2012.

Từ năm 2015 đến nay, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) cũng đã tài trợ cho BQL thực hiện dự án “Bảo tồn bãi đẻ của Rùa biển có sự tham gia của cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm”. Các hoạt động chính của dự án chủ yếu là truyền thông nâng cao nhận thức cho học sinh, cộng đồng, du khách, doanh nghiệp và các bên liên quan khác về tầm quan trọng của rùa biển và tác hại của túi nilon đến rùa biển; thảo luận các sinh kế thay thế nhằm chuyển đổi khai thác thủy sản bằng lưới ba lớp – đây là loại lưới mà rùa biển thường xuyên mắc phải và gây tử vong tại Cù Lao Chàm.

Thực hiện Biên bản ghi nhớ giữa UBND thành phố Hội An và Cơ quan Tài nguyên thủy sản Hàn Quốc (FIRA), BQL cũng đã tiếp nhận và thực hiện dự án “Phục hồi nguồn lợi tài nguyên bằng phương pháp rạn nhân tạo” (2018 – 2022). Dự án đã bước đầu triển khai khảo sát thực địa nhằm thu thập các thông tin về hải dương học, hiện trạng nguồn lợi hải sản để làm cơ sở xác định vị trí đặt rạn nhân tạo và chọn nguồn giống tái thả trong tự nhiên.

Kể từ khi thành lập cho đến khi được công nhận danh hiệu Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An đến nay, BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu, thực hiện các chương trình, đề tài, dự án nhằm mục đích bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nhóm ĐTMT tại Cù Lao Chàm. Mặc dù các kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nhóm ĐTMT đang bị suy giảm nhưng nguyên nhân chủ yếu là do khai thác hải sản quá mức và trái phép bằng các nghề giã cào, lưới rê, lưới vây, pha súc,…đến từ các phương tiện ngoài địa phương; hoạt động của các cano du lịch tại các bãi biển gây xáo trộn nền đáy và phủ trầm tích lên RSH, thảm cỏ biển; việc xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng trên đảo phục vụ phát triển KT-XH làm giảm hơn 100ha rừng đặc dụng, mất và chia cắt sinh cảnh sống của một số loài, đặc biệt là Cua đá và gây ô nhiễm môi trường do trầm tích, vật liệu xây dựng bị rửa trôi; và sự phát triển du lịch thiếu bền vững.

Do vậy, trong thời gian đến BQL sẽ tập trung vào những chiến lược lâu dài trong công tác quy hoạch để đảm bảo duy trì và phục hồi các hệ sinh thái và nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nhóm ĐTMT. Việc cần làm trước mắt là quy hoạch bãi đậu đỗ cano, đặc biệt tại khu vực Bãi Ông. Hoạt động du lịch cũng cần được điều chỉnh lại với định hướng du lịch sinh thái, nâng cao chất lượng dịch vụ, chọn lọc đối tượng khách. Các phân vùng của khu bảo tồn biển cũng cần được điều chỉnh sớm, đặc biệt là mở rộng diện tích vùng bảo vệ nghiêm ngặt để đảm bảo duy trì, và phục hồi hệ sinh thái RSH và thảm cỏ biển. Tăng cường hoạt động tuần tra, kiểm soát và có sự phối hợp chặt chẽ với các nhóm bảo tồn cộng đồng cũng là hoạt động được ưu tiên hàng đầu. Truyền thông nâng cao nhận thức cho cộng đồng, doanh nghiệp là giải pháp lâu dài và cần tăng cường, đổi mới về hình thức, chất lượng lẫn số lượng. Với những áp lực lên hệ sinh thái đến từ thượng nguồn, cần áp dụng các phương thức quản lý tổng hợp liên ngành liên vùng từ thượng nguồn đến hạ lưu sông Thu Bồn, trong đó nổi bật là quản lý rác thải, các công trình xây dựng trên lưu vực sông.

ThS. Trần Thị Phương Thảo – BQL KBTB CLC

 
 

Tập huấn và tham quan học tập các mô hình về phát triển và tái tạo nguồn lợi thủy hải sản tại Hàn Quốc

PDF.InEmail

Thứ tư, 03 Tháng 10 2018 09:39 Số truy cập:1631

Thực hiện các nội dung trong dự án hợp tác về Phát triển nguồn lợi thủy hải sản ven bờ năm 2018 giữa Ủy ban Nhân dân thành phố Hội An và Cơ quan Tài nguyên thủy sản Hàn Quốc (FIRA – Korea Fisheries Resource Agency). Theo lời mời của FIRA, từ ngày 2 đến ngày 7 tháng 9 năm 2018; đoàn đại biểu gồm có đại diện Lãnh đạo UBND thành phố và các cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã tham gia chương trình tập huấn và tham quan học tập các mô hình về phát triển và tái tạo nguồn lợi thủy hải sản tại Hàn Quốc.

Theo đó, ngày thứ nhất của chương trình, tại trụ sở chính của FIRA ở thành phố Busan, đoàn đã được tham quan và nghe giới thiệu về cơ cấu tổ chức và các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển nguồn lợi của FIRA. Đoàn cũng đã được các giáo sư thỉnh giảng, và chuyên gia từ các trung tâm nghiên cứu của FIRA chia sẻ và giới thiệu về các nội dung liên quan về: chính sách ODA của chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển trong khu vực; các chính sách liên quan đến quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản của Hàn Quốc; Rạn nhân tạo (artificial reefs) và ứng dụng trong phát triển tái tạo tài nguyên biển…

A-Hanquoc03102018-01

Hình 1-4: Thăm quan các Trung tâm nghiên cứu của FIRA tại Busan

A-Hanquoc03102018-02

 Hình 5-8: Đoàn đại biểu nghe các bài giảng về ODA, chính sách quản lý nghề cá và ứng dụng công nghệ Rạn nhân tạo trong phát triển tái tạo nguồn lợi

Trong các ngày tiếp theo của chương trình, đoàn được đi tham quan thực tế nhiều địa điểm bao gồm trung tâm thiết kế và thi công các cấu trúc rạn nhân tạo, các khu vực đang được triển khai áp dụng các công nghệ Rạn nhân tạo, đoàn cũng được trực tiếp lặn khảo sát tại một điểm đã thiết lập Rạn nhân tạo và tham gia vào quá trình thiết lập các cấu trúc Rạn tại điểm trình diễn mới. Bên cạnh đó, đoàn đại biểu của thành phố cũng đã làm việc với một số Trung tâm/viện nghiên cứu về nguồn lợi thủy hải sản tại Hàn Quốc trong khoảng thời gian này.

Một số hình ảnh trong quá trình tham quan học tập:

 A-Hanquoc03102018-03

Hình 9-10: Tham quan và làm việc với Viện nghiên cứu Quốc gia về khoa học thủy sản Hàn Quốc, chi nhánh đảo Jeju

A-Hanquoc03102018-04

Hình 10-14: Tham quan trung tâm thiết kế và thi công Rạn nhân tạo tại đảo Jeju

A-Hanquoc03102018-05

Hình 15-18: Lặn khảo sát tại mô hình trình diễn ở đảo Jeju

A-Hanquoc03102018-06

Hình 19-22: Tham quan Aquarium tại đảo Jeju

A-Hanquoc03102018-07

Hình 23-26: Theo dõi quá trình thiết lập Rạn nhân tạo tại Gyung gi-do

Rạn nhân tạo đã được nghiên cứu và triển khai áp dụng trong việc phát triển, tái tạo nguồn lợi thủy hải sản ở Hàn Quốc trong thời gian khá dài, và đã thu được những kết quả tích cực. Chuyến tập huấn và tham quan học tập lần này đã mang đến những góc nhìn thực tiễn nhất về việc áp dụng công nghệ trong quản lý và phát triển bền vững tài nguyên cho các đại biểu tham gia; đây là cơ sở và nền tảng để BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm nói riêng và UBND thành phố Hội An nói chung tiếp tục hợp tác, phối hợp với FIRA nghiên cứu tính khả thi của việc chuyển giao và áp dụng các công nghệ này vào quản lý và phục hồi nguồn lợi tài nguyên cho Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và vùng biển ven bờ Hội An trong thời gian tới.

*, Lời cảm ơn: Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm xin gửi lời cảm ơn đến Cơ quan Tài nguyên thủy sản Hàn Quốc FIRA đã đài thọ kinh phí cho chuyến tham gia học tập lần này. Cảm ơn đến bà Park Hyun-Ju và các cán bộ/chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ và Phòng hợp tác quốc tế của FIRA đã hỗ trợ tích cực cho thành công của chương trình lần này./.

Nguyễn Thành Huy – KBTB Cù Lao Chàm

 
 

Biến đổi khí hậu đang chuyển hóa 99% rùa con thành rùa cái

PDF.InEmail

Thứ hai, 30 Tháng 7 2018 14:29 Số truy cập:1748

Đó là nhận định của các nhà sinh học thế giới được đăng tải trên The Washington Post ngày 8/01/2018 của tác giả Ben Guarino.

A-BDKHruabien 30072018-01

(Một rùa xanh bò xuống biển sau khi đẻ thành công một tổ trứng tại đảo Bảy Cạnh-Vườn quốc gia Côn Đảo)

Đọc thêm...

 
 

Trang 1 trong tổng số 9

...