Nghiên cứu phát triển

Biến đổi khí hậu đang chuyển hóa 99% rùa con thành rùa cái

PDF.InEmail

Thứ hai, 30 Tháng 7 2018 14:29 Số truy cập:320

Đó là nhận định của các nhà sinh học thế giới được đăng tải trên The Washington Post ngày 8/01/2018 của tác giả Ben Guarino.

A-BDKHruabien 30072018-01

(Một rùa xanh bò xuống biển sau khi đẻ thành công một tổ trứng tại đảo Bảy Cạnh-Vườn quốc gia Côn Đảo)

Theo báo cáo gần đây của Tạp chí Current Biology, hiện đã có một vài quần thể rùa biển bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ khi đa phần các rùa con đã mang giới tính cái. “Đây là một trong những bài báo bảo tồn quan trọng nhất của thập kỉ”, nhà sinh vật học David Owens - Giáo sư danh dự của trường đại học Charleston đánh giá như vậy và sẽ không lâu nữa, có thể chỉ trong vài thập kỷ tới “không đủ rùa đực trong quần thể rùa biển nữa,” ông đã cảnh báo.

Đã từ lâu khoa học đã cho chúng ta biết giới tính của rùa biển không được quy định từ nhiễm sắc thể (gene) của bố mẹ chúng mà hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường bên ngoài của bãi cát ấp trứng quy định. Đây là một đặc điểm sinh học khác thường của loài rùa biển không giống như của con người và các loài động vật có vú khác. Và chính đặc điểm sinh học khác thường này, theo các nhà khoa học, lại đang là mối đe dọa đối với rùa biển trong tương lai khi điều kiện biến đổi khí hậu và trái đất đang ấm lên được diễn ra trên phạm vi toàn cầu.

Ảnh hưởng các điều kiện môi trường đối với sự ấp nở của trứng rùa:

Quá trình ấp và nở của trứng rùa biển trong tự nhiên phụ thuộc vào các điều kiện môi trường, bao gồm các yếu tố cơ bản: sự trao đổi khí, độ ẩm và nhiệt độ của bãi cát ấp trứng khi đáp ứng thỏa mãn giới hạn sự chịu đựng của phôi trong trứng. Khi sự trao đổi khí không thỏa đáng sẽ làm chậm sự phát triển của phôi và tăng tỉ lệ chết phôi. Còn ảnh hưởng của các cấp độ ẩm được thấy rõ hơn, trứng rùa biển rất nhạy cảm với sự khô hạn, tỉ lệ chết phôi cao khi điều kiện bãi cát khô hơn và ngược lại sự ngập nước của tổ trứng trong vài giờ sẽ làm tăng tỉ lệ chết phôi do thiếu ô xy cần thiết cho sự hô hấp của phôi trứng. Đối với nhiệt độ bãi cát là yếu tố tác động được thấy rõ ràng nhất. Theo Miller (1985), phôi trứng rùa biển sẽ không phát triển ở nhiệt độ tối thiểu không đổi là 23 độ C và nhiệt độ tối đa không đổi là 34 độ C; nhiệt độ càng cao thì thời gian ấp trứng càng ngắn. Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy: trứng rùa được ấp ở nhiệt độ < 23 độ C vào 1/3 của kỳ ấp trứng thì rất hiếm nở, trứng được ấp ở nhiệt độ > 33 độ C trong thời gian dài sẽ làm chết phôi trứng không nở được. Rõ ràng nhiệt độ của bãi ấp trứng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến các thông số về thời gian trứng nở, tỉ lệ nở, tỉ lệ giới tính của rùa con. Một nghiên cứu tại Vườn quốc gia Côn Đảo (theo Nguyễn Trường Giang, 2003) đối với rùa xanh tại Côn Đảo có thời gian ấp trứng là 55,18 ± 6,22 ngày (biến động từ 41 - 86 ngày); một nghiên cứu khác của Maria A (2003) đối với rùa xanh tại Côn Đảo: nhiệt độ ở giai đoạn 1/3 giữa của kỳ ấp trứng là 28,6 ± 0,8 độ C thì thời gian ấp trứng là 57,5 ± 2,4 ngày với tỉ lệ trứng nở là 76,1%.…và khoa học cũng cho chúng ta biết: ở tất cả các loài rùa biển, quá trình ấp trứng trong môi trường nhiệt độ cao (vượt qua mức nhiệt độ cân bằng) sẽ nở ra cá thể cái với tỉ lệ cao và ngược lại ở môi trường nhiệt độ thấp hơn thì rùa con nở ra mang giới tính đực nhiều hơn.

Các yếu tố ngoại cảnh tác động đến sự ấp trứng rùa biển được mô tả dưới đây:

A-BDKHruabien 30072018-02

Theo Camryn Allen - nhà nghiên cứu nội tiết học của Cơ quan quản lý khí tượng và Đại dương quốc gia Mỹ, và là đồng tác giả của nghiên cứu về giới tính của rùa con cho biết: “Đó không phải là gen. Đó chính là nhiệt độ và tại mức nhiệt độ cân bằng (pivot temperature), trứng rùa nở ra rùa đực và rùa cái với tỉ lệ 50:50. Đối với rùa xanh (Chelonia mydas), nhiệt độ cân bằng này là 29,30C. Nếu thấp hơn 29,30C vài độ, tất cả rùa biển nở đều là rùa đực, nhiệt độ tăng lên vài độ thì chỉ có rùa cái nở ra”. Nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng cho biết: ở các loài rùa khác nhau thì mức nhiệt độ cân bằng giới tính có sự khác nhau.

A-BDKHruabien 30072018-03

Trứng rùa biển từ VQG Côn Đảo được chuyển vị về Cù Lao Chàm ấp nở thành công và thả rùa con về biển vào tháng 8 năm 2017

Liên quan đến giới tính của rùa biển, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các loại vật liệu khác nhau để làm mái che tại các bãi ấp trứng rùa, và kết quả các nghiên cứu đó cho thấy khi sử dụng các vật liệu làm mái che khác nhau (bằng lưới màu xanh, lưới màu đen, tấm bạt plastics, bằng lá,... ) thì khi rùa nở có tỉ lệ giới tính cũng khác khác nhau. Trong chương trình bảo tồn và nghiên cứu rùa biển của mình, Vườn quốc gia Côn Đảo cũng quan tâm khá sớm đến tỉ lệ giới tính trong quá trình ấp trứng và vật liệu sử dụng thường là các loại lưới nhựa xanh, đen và lá dừa với mức độ che khác nhau, rất tiếc chưa có thống kê chi tiết về kết quả nghiên cứu, và nghiên cứu này ban đầu chỉ quan tâm đến tỉ lệ giới tính (tăng tỉ lệ rùa đực cho quần thể), điều này lại rất ý nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh biến đổi khí hậu, nhiệt độ ấm lên toàn cầu đã và đang diễn ra trong tương lai. Do vậy, có điều kiện Vườn quốc gia Côn Đảo nên quan tâm hơn nữa trong nghiên cứu về giới tính của rùa biển nhằm tạo sự cân bằng về giới tính cho quần thể rùa biển trong tương lai để ứng phó với điều kiện bất thường của khía hậu đang diễn ra.

A-BDKHruabien 30072018-04

Vườn quốc gia Côn Đảo thường sử dụng vật liệu lưới nhựa, lá dừa làm dàn che tại các hồ ấp trứng rùa để điều tiết giới tính cho rùa con.

Thời gian gần đây, sự hợp tác giữa Vườn quốc gia Côn Đảo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam thực hiện một nghiên cứu mới về bảo tồn rùa biển, đó là chuyển vị 1.400 trứng rùa biển có 40 ngày tuổi đã được ấp tự nhiên tại đảo Bảy Cạnh - Côn Đảo di dời về tiếp tục ấp nở thành công với tỉ lệ nở khá cao tại bãi cát của Cù Lao Chàm, kết quả này là một hướng nghiên cứu mới trong bảo tồn chuyển vị rùa biển, đóng góp quan trọng trong nỗ lực hành động quốc gia về bảo tồn và phục hồi rùa biển trong phạm vi cả nước.

Phần cuối bài báo đã đề cập nói trên, Owens và Allen cũng đã nhận định “trong phương pháp quản lý vẫn có khả năng khắc phục được, che bóng râm bãi biển hoặc tưới nước trên cát có thể làm giảm nhiệt độ nơi ấp trứng rùa biển. Chính phủ Úc thông qua dự án phục hồi đảo Raine đang triển khai thực hiện giám sát và bảo vệ loài động vật này”.

Với quá trình và kinh nghiệm hơn 2 thập kỷ quản lý, bảo tồn các loài rùa biển, Vườn quốc gia Côn Đảo xứng đáng là lá cờ đầu trong việc nghiên cứu, bảo tồn các loài rùa biển quý, hiếm trong điều kiện biến đổi khí hậu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu nhằm duy trì và phát triển quần thể rùa biển cho đất nước trong tương lai. Đúng như Allen đã nói “thứ chúng ta đang có trong tay là thời gian”.

Biên soạn: Lê Xuân Đà(1) và Lê Xuân Ái(2)

Tài liệu tham khảo:

- Ben Guarino, January 8, 2018. Climate change is turning 99 percent of these baby sea turtles female (The Washington Post, January 8, 2018);

- Nguyễn Trường Giang, 2009. Cẩm nang nghiên cứu và bảo tồn rùa biển. Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2009

(1): Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo.

(2): Cố vấn khoa học Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

 

Chiến lược gắn kết sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn Di sản và phát triển bền vững tại địa phương / những khó khăn trở ngại trong công tác vận động cộng đồng ở Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm và Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An.

PDF.InEmail

Thứ năm, 19 Tháng 7 2018 09:11 Số truy cập:566

Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản và phát triển bền vững là vô cùng quan trọng, bởi lẽ cộng đồng là chủ nhân chính thức của di sản; sự tham gia của cộng đồng vào quá trình này được thể hiện theo nhiều cấp độ khác nhau, tuy nhiên người dân phải được thể hiện vai trò là một chủ thể thực sự. Vì vậy, sự tham gia không chỉ là biết, hiểu mà phải hợp tác hành động và sinh lợi chính trên những giá trị di sản mình đang bảo vệ, bảo tồn. Nghiên cứu gần đây về sự tham gia của cộng đồng trong Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm cho thấy người dân phải được tham gia tích cực và thực sự vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản và một khi quyền tham gia ấy được xây dựng, bảo vệ và phát triển thì sinh kế của người dân được cải thiện và kinh tế xã hội của địa phương đó phát triển. Năng lực và nhận thức về bảo tồn và phát triển của cộng đồng phải được không ngừng nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

Đọc thêm...

 
 

Đoàn đại biểu Đại hội đồng Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) thăm quan dự án tại Hội An và Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ năm, 19 Tháng 7 2018 08:49 Số truy cập:253

Trong khuôn khổ kỳ họp lần thứ 6 Đại hội đồng Quỹ môi trường toàn cầu (GEF 6) diễn ra tại Đà Nẵng từ ngày 23-29/6, ngày 29/6, đoàn đại biểu của GEF đã có chuyến thăm mô hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An và mô hình cộng đồng bảo tồn cua đá Cù Lao Chàm. Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm cùng với Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Hội An, Hội Nông dân xã Tân Hiệp với vai trò đầu mối đã phối hợp tổ chức thành công sự kiện đặc biệt này. Dưới đây là một số thông tin, hình ảnh tổng hợp về hai chuyến tham quan thực địa.

Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Quỹ Môi trường toàn cầu dẫn đầu đoàn đại biểu thăm mô hình cua đá tại Cù Lao Chàm

Một vinh dự khá lớn và cũng là niềm tự hào không nhỏ của cộng đồng dân cư Cù Lao Chàm khi được đón tiếp bà Naoko Ishii- Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành GEF cùng gần 50 đại biểu đến từ nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới đến thăm và làm việc. Tiếp đoàn có bà Trần Thị Hồng Thúy- Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, bà Phạm Thị Mỹ Hương- Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp cùng đại diện các cán bộ đến từ hai đơn vị. Các đại biểu đã dành phần lớn thời gian trò chuyện cùng các thành viên Tổ khai thác cua đá tự quản và tìm hiểu về quy trình dán nhãn sinh thái dành cho cua đá. Năm 2010, phối hợp với Quỹ Môi trường Toàn Cầu và thành phố Hội An, Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã triển khai dự án “Xây dựng mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm”. Trong thời gian 3 năm từ 1/2010 đến 12/2013, dự án đã cùng với cộng đồng và chính quyền địa phương nghiên cứu xây dựng được khung quản lý nhằm vận động người dân tham gia bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá tại Cù Lao Chàm. Thông qua các hoạt động điều tra, tuyên truyền, hội thảo, hội thi sáng tác logo xây dựng nhãn sinh thái cua Đá, thử nghiệm công năng của nhãn sinh thái, thành lập Tổ cộng đồng, xây dựng quy ước và trang thiết bị cho hoạt động của Tổ cộng đồng này, một mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã được hình thành.

Trong chương trình làm việc, đoàn cũng đã tham quan khu làng chài Bãi Làng, tìm hiểu về các làng nghề truyền thống như bánh ít lá gai, su sê, làm võng ngô đồng. Các đại biểu cũng ấn tượng với các chiến dịch môi trường được triển khai tại đây như Nói không với túi ni lông, ống hút nhựa vv...

A-GEF19072018-01

Hình 1: Bà Naoko Ishii cùng đoàn đại biểu tham quan mô hình cua đá

 A-GEF19072018-02

Hình 2: Đoàn đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Cù Lao Chàm

A-GEF19072018-03

Hình 3: Đoàn đại biểu chụp ảnh lưu niệm cùng tổ Cộng đồng khai thác và bảo vệ cua đá

A-GEF19072018-04

Hình 4: Bà Naoko Ishii trò chuyện cùng ông Trần Công, thành viên tổ Cộng đồng khai thác và bảo vệ cua đá

Thăm quan mô hình quản lý rác thải tại Hội An

Trong cùng ngày, gần 50 đại biểu Đại hội đồng Quỹ môi trường toàn cầu cũng đã có chuyến thăm quan thực địa dự án “Xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An”.

Các cán bộ Ban quản lý Khu bảo tồn biển đã hỗ trợ tích cực Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Hội An trong công tác hướng dẫn, phiên dịch cho đoàn. Đoàn đại biểu đã đến thăm quan học tập tại cơ sở đề bô chị Lê Thị Thu Vân (Bầu Ốc Thượng, Cẩm Hà), một trong những cơ sở được hưởng lợi từ dự án trước đây. Nhiều đại biểu đã tỏ ra khá thích thú khi chứng kiến quy trình vận hành của máy ép rác tự chế. Với chiếc máy này, cơ sở đã tiết kiệm được hơn một nửa thời gian và diện tích so với trước đây. Ngoài việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho các chị phụ nữ tại địa phương, cơ sở còn góp phần giải quyết đến 70% lượng rác thải tái chế của thành phố. Đoàn cũng đã đến thăm quan làng rau Trà Quế và đồng thời tìm hiểu về mô hình làm phân compost của hộ gia đình ông Nguyễn Thành Cử.

Dự án “Xây dựng mô hình xã hội hóa công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An” được tài trợ bởi Chương trình tài trợ các dự án nhỏ Quỹ môi trường toàn cầu (SGP GEF) từ năm 2011- 2013, thực hiện bởi Hội liên hiệp phụ nữ thành phố.

Mục tiêu của dự án đáp ứng được phần nào mục tiêu lâu dài trong chiến lược quản lý rác thải tại TP. Hội An, góp phần tăng cường hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững di sản văn hóa thế giới ở Hội An. GEF đã đưa ra các giải pháp cụ thể để thực hiện dự án, gồm: Hướng dẫn, truyền thông về phân loại rác thải tại nguồn, nâng cao năng lực đội ngũ những người thu mua ve chai trên địa bàn Hội An, làm phân compost...

Tại buổi trò chuyện cùng Hội liên hiệp phụ nữ thành phố về dự án, các đại biểu cũng có dịp gặp gỡ các thành viên của Tổ phụ nữ thu gom rác thải. Đây là nhóm hoạt động nòng cốt của dự án, là các chị thu mua ve chai trên địa bàn thành phố. Dự án đã hỗ trợ mua sắm trang thiết bị, xây dựng và triển khai vay vốn sản xuất cho các thành viên trong nhóm. Phát biểu tại buổi trò chuyện, nhiều đại biểu cho rằng đây là một mô hình rất cần được nhân rộng bởi thông qua việc hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng hộ nghèo, khó khăn, hỗ trợ cho các chị buôn bán ve chai được vay vốn đã giúp kết hợp đươc sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường.

Một số hình ảnh tại chuyến thăm quan thực địa:

A-GEF19072018-05

Hình 5: Hai đoàn đại biểu chụp ảnh lưu niệm

A-GEF19072018-06

Hình 6: Trò chuyện cùng cơ sở đề bô của bà Lê Thị Thu Vân

A-GEF19072018-07

Hình 7: Đại biểu trò chuyện cùng các chị thuộc Tổ phụ nữ thu gom rác thải

A-GEF19072018-08

Hình 8: Đại biểu thăm quan làng rau Trà Quế

Thảo Huyền – BQL KBTB CLC

 
 

Cơ hội mở ra từ việc ứng dụng thành công Công nghệ phục hồi san hô cứng tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ tư, 18 Tháng 7 2018 15:42 Số truy cập:276

Rạn san hô là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, không những có giá trị về mặt sinh thái mà còn có giá trị về mặt kinh tế lâu dài nếu được khai thác một cách hợp lý. Chỉ với 0,1% diện tích nhưng rạn san hô có khả năng góp phần cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp 10% tổng sản lượng nghề cá trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, với giá trị thẩm mỹ và những điều thú vị trong hệ sinh thái này đã thu hút con người tìm đến để khám phá, các dịch vụ du lịch ở những nơi có rạn san hô ra đời kéo theo sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay các rạn san hô đang bị đe dọa bởi nhiều nguyên nhân: sự tác động của con người (hoạt động khai thác thủy hải sản, neo đậu tàu thuyền, phát triển du lịch…), biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, ), tai biến thiên nhiên (bão, lũ, ngọt hóa…). Theo những thống kê gần đây, diện tích rạn san hô trên thế giới đã mất khoảng 11% và khoảng 20% số rạn đang trong tình trạng có chiều hướng suy thoái nghiêm trọng và không có khả năng phục hồi (Wilkinson, 2004).

Đọc thêm...

 
 

Giải pháp tài chính bền vững cho Khu Bảo tồn biển từ phát triển du lịch – mô hình ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm

PDF.InEmail

Thứ hai, 18 Tháng 6 2018 14:14 Số truy cập:544

Tóm tắt: Khu bảo tồn biển là công cụ hữu hiệu trong việc giảm thiểu sự suy giảm nguồn lợi từ biển do tác động của hoạt động khai thác, đồng thời giúp phục hồi sức khỏe các hệ sinh thái biển và cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều nghiên cứu gần đây còn chỉ ra vai trò của bảo tồn biển đối với việc thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, để vận hành hiệu quả một khu bảo tồn biển, cần rất nhiều nguồn tài trợ, trong đó giải pháp huy động nguồn lực tài chính bền vững là một trong những tài trợ quan trọng nhất. Thực tiễn quản lý tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam cho thấy để duy trì nguồn tài chính bền vững cho hoạt động bảo tồn biển, cần phát huy các giá trị, hiểu được nhu cầu sử dụng dịch vụ sinh thái và thực hiện nguyên tắc người sử dụng dịch vụ phải trả tiền. Phát triển du lịch, hình thành các sản phẩm du lịch bền vững cùng với các hình thức tổ chức đào tạo, nghiên cứu, khai thác hợp lý nguồn lợi từ giá trị dịch vụ sinh thái mà khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm mang lại là định hướng tốt tạo nguồn thu cho bên cung cấp dịch vụ. Cũng cần thấy rằng, nguồn tài chính thu được từ sự gia tăng giá trị lợi ích sinh thái cần ưu tiên tái đầu tư cho sức khỏe hệ sinh thái của khu bảo tồn.

Từ khóa: Khu bảo tồn biển, Cù Lao Chàm, du lịch bền vững, hệ sinh thái

Đọc thêm...

 
 

Trang 1 trong tổng số 9