Chương trình sinh kế trong Khu bảo tồn biển - sau 5 năm nhìn lại

PDF.InEmail

sinhke20-10Vào năm 2005, Cù Lao Chàm có dân số là 2.732 người, thuộc 637 hộ. 82,4% dân số có nguồn thu nhập chính từ hoạt động khai thác thủy sản. Phương tiện khai thác nhỏ, công suất máy trung bình 10,25 CV/phương tiện; ngoài ra còn có một số lượng thúng chai (khoảng 75 chiếc) cũng hoạt động nghề khai thác hải sản. Với năng lực hạn chế nên ngư trường khai thác của ngư dân chủ yếu là ven các đảo.

sinh_ke20_10

Hình 1: Phương tiện khai thác của ngư dân Cù Lao Chàm

Tháng 12/2005, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm được thành lập. Một bài toán hóc búa được đặt ra cho những người làm công tác bảo tồn biển lúc bấy giờ, đó là: làm thế nào để công tác phân vùng bảo vệ các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển – vốn là ngư trường khai thác truyền thống của ngư dân địa phương – đạt hiệu quả mà ít ảnh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng ngư dân?

Ban_do_phan_vung

Hình 2: Phân vùng bảo vệ của Khu bảo tồn biển - ngư trường hoạt động chính của ngư dân địa phương

Sau 5 năm (10/2006 ÷ 9/2011) thực hiện chương trình sinh kế bền vững bên trong và xung quanh khu bảo tồn biển, Bài toán ấy dường như đã được Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm tìm ra lời giải.

Có thể nói, 5 năm cho một quá trình chuyển đổi sinh kế của một cộng đồng ngư dân vùng đảo là khoảng thời gian không dài, nhưng Chương trình sinh kế mang lại cho Cù Lao Chàm là một thay đổi khá toàn diện, góp phần phát triển kinh tế - xã hội gắn với công tác bảo vệ môi trường sinh thái biển tại xã Đảo.

Xem toàn văn báo cáo

Nguyễn Văn Vũ - BQL KBTB Cù Lao Chàm

..